Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoành Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoành Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Unknown

Thành luỹ cổ độc đáo bậc nhất Bắc Trung Bộ còn nguyên vẹn trên đỉnh Đèo Bột - Kỳ Anh

[Đang biên tập]
Hệ thống thành luỹ cổ bằng đá vừa được phát hiện tại đỉnh Đèo Bụt, thuộc dãy núi Hoành Sơn (Hà Tĩnh). Nhiều nhà khoa học khẳng định, đây là công trình kiến trúc cổ giá trị, độc đáo bậc nhất Bắc Trung bộ còn nguyên vẹn.


Ông Lê Bá Hạnh, Phó GĐ Bảo tàng Hà Tĩnh cho biết, hệ thống thành lũy này được ghép bằnh những viên đá đã được cắt gọt, vuông vức theo phương thẳng đứng. Độ cao của thành lũy hơn 3m, phía mặt trên thành khá bằng phẳng, nơi rộng nhất khoảng 2m và hẹp nhất từ 1,2 – 1,5m. Hệ thống thành lũy bằng đá này nằm về phía Bắc của dãy Hoành Sơn Quan theo trục Đông – Tây, mặt trước thành hướng về phía Nam, chiều dài ước tính hàng chục kilômét và khả năng còn kéo đến tận địa phận tỉnh Quảng Bình. Hiện mới chỉ phát hiện được một đoạn thành lũy còn khá nguyên vẹn dài khoảng 500m.

Theo chiều dài của thân thành lũy cứ cách nhau khoảng 3-4m lại được trổ hỏa hiệu kiểu dạng hình phễu, mặt trước to, mặt sau thu nhỏ lại, khả năng khi xây dựng công dụng của thành là vừa để thoát nước vừa quan sát đánh trả kẻ địch lúc công phá thành.
Ở vị trí đặt hỏa hiệu hai bên có xây bậc theo kiểu tam cấp cho quân lính lên xuống thành lũy thuận tiện, đồng thời có địa điểm để tập kết quân lính được đào sâu dưới chân thành về phía Bắc gọi là hộc đóng quân, có kích thước hình vuông mỗi chiều dài từ 4,5-5m…
Ông Hồ Bách Khoa, Trưởng ban quản lý Khu di tích đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, một trong những người đầu tiên phát hiện ra hệ thống thành lũy bằng đá cổ này cho biết, trước đó vào khoảng năm 1993 sau hàng chục lần lên khu vực đèo Bụt và cả vùng rừng núi Hoành Sơn tìm kiếm đã phát hiện ra được hệ thống thành lũy đá cổ này. Theo ý kiến bước đầu của một số nhà nghiên cứu văn hóa, di sản, rất có khả năng hệ thống thành lũy đá cổ này là dấu tích còn lại trong hệ thống thành lũy cổ của vương quốc Lâm Ấp (thời kỳ Đại Việt – Champa) với chiều dài trên 30km do vương quốc Lâm Ấp xây dựng dựa vào dãy Hoành Sơn, với mục đích phòng thủ bảo vệ biên giới… Đến giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh thì hệ thống thành lũy đá cổ này mới tiếp tục được chúa Trịnh Toàn củng cố thêm, cho nên người dân địa phương vẫn còn gọi là lũy Ông Ninh (Ninh Quận công – Trịnh Toàn). “Đây là một hệ thống công trình thành lũy cổ bằng đá rất độc đáo, được xây dựng với kỹ thuật kiến trúc bậc cao, có giá trị văn hóa, lịch sử và có ý nghĩa rất quan trọng”, ông Hạnh nói thêm.
Ông Lê Văn Cương (67 tuổi, nhà ở xóm Lạc Thắng, xã Kỳ Lạc) cho biết “Thành lũy đá cổ này được xây từ lâu lắm. Từ đời cố tôi đã thấy có rồi. Đặc biệt, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, đây còn là nơi hành quân, trú ẩn, chiến đấu an toàn của quân và dân ta”.Cùng chiêm ngưỡng hình ảnh thành luỹ cổ
Read More
Unknown

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Hoành Sơn - Kỳ Anh



(Người Kỳ Anh) Bãi Hoành Sơn thuộc địa phận xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh – cách chân đèo Ngang chưa tới 2km, điểm cuối cùng của Hà Tĩnh, nơi tiếp giáp Quảng Bình. Nơi đây đã từng là ranh giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành trong lịch sSơn

Đèo Ngang là con đèo vượt dãy Hoành Sơn, là một chốt hiểm yếu trên con đường thiên lý Bắc – Nam. Đèo Ngang nổi tiếng không chỉ vì yếu tố lịch sử mà còn là một thắng cảnh nổi tiếng của dải đất miền trung đầy nắng gió. Trên đỉnh đèo có Hoành Sơn Quan, được xây từ thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, vẫn đứng sừng sững qua bao mưa nắng thời gian cho tới bây giờ… Đèo Ngang đã trở thành một huyền thoại đi vào văn chương, thi ca.

Tìm một chặng nghỉ chân trước khi vượt qua con đèo và dãy Hoành Sơn, tôi đã dừng lại ở bãi biển Hoành Sơn. Nằm ngay dưới chân đèo Ngang, đúng hơn là nằm ngay ngã ba từ tuyến quốc lộ 1A đi sát biển phân nhánh – một nhánh lên đèo theo con đường xưa cả ngàn năm, một nhánh đi xuyên hầm Đèo Ngang qua núi, bãi biển Hoành Sơn hoang sơ và lẩn khuất…

Bãi Hoành Sơn thuộc địa phận xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh – cách chân đèo Ngang chưa tới 2km (theo hướng quốc lộ Bắc – Nam), phía bên kia là địa phận Quảng Bình. Có lẽ ở nơi “tận cùng” này, mọi thứ vẫn còn hoang sơ như con đèo và dãy Hoành Sơn hùng vĩ.

Bãi biển Hoành Sơn được dãy núi bao bọc che chở nên kín đáo và lặng gió; nước trong, xanh ngắt. Nơi đây thừa hưởng khí hậu cũng như phong cảnh của cả biển và núi rừng. Ở bãi biển có thể nhìn thấy dãy Hoành Sơn  – dãy núi chạy từ dải Trường Sơn – kéo ra tận biển Đông. Ở đó cũng có những bãi đá lô xô lan từ núi ra biển như như bãi “đá nhảy” như nhiều bãi biển miền Trung…

Bãi biển Hoành Sơn nhỏ, hẹp, không thể là những bãi tắm hoành tráng mang tính công nghiệp du lịch ở miền trung như Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An)… nhưng lại gây ấn tượng bởi sự hùng vĩ và hoang sơ của thiên nhiên, sự giản dị của cuộc sống con người. Bãi biển Hoành Sơn chắc chắn sẽ hấp dẫn những người ưa phiêu lưu, khám phá. Thử xem, một buổi chiều trên bãi biển, trời man mác, không có ai và bất chợt một… đàn bò hiện ra. Dải Hoành Sơn đâm ra biển xanh mờ, những con sóng chồm lên bãi đá… Và thử xem, buổi chiều lên con đèo và xuống khi trời muộn; vẳng nghe thơ Bà Huyện Thanh Quan: “Một mảnh tình riêng ta với ta…”./.

Vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Hoành Sơn

Bình minh trên bãi biển Hoành Sơn, biến vắng trong ánh ban mai


Chỉ có những con sóng tràn lên bờ cát, lên những bãi đá. Phía xa là dải Hoành Sơn xanh mờ nhô ra biển


Vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Hoành Sơn


Những viên đá vùi trong cát và rêu phủ xanh


Thấp thoáng bóng dáng những ngư dân


Kỳ vĩ sóng vỗ những mõm đá nhọn hoắt


Khi con sóng rút đi…


Buổi chiều, biển như bình yên và buồn hơn


Con thuyền cô đơn cũng đang ngơi nghỉ


Bãi đá và những mảng rêu cũng lặng lẽ


Một bức tranh của biển để lại


Đàn bò thủng thẳng đi về…


Nơi đây còn rất hoang sơ và bình yên!

Người Kỳ Anh



Read More
Unknown

Giang sơn đệ nhất xứ Kỳ Anh



Đèo Ngang là một thắng cảnh đẹp ở Kỳ Anh - Hà Tĩnh, nơi có núi biếc biển  xanh. Bao đời nay cảnh đẹp Đèo Ngang đã làm rung động tâm hồn bao thi nhân mặc khách.
Từ Vua Thiệu Trị đến Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Bùi Huy Bích ... và bao nhiêu người nữa khi đi qua Đèo Ngang đều có thơ về cảnh trí nơi này. Hiện nay Đèo Ngang đang từng bước đổi thay nên cảnh Đèo Ngang vốn đã đẹp nay lại càng đẹp làm mê lòng người.


♢ Những tuyệt phẩm thơ cổ về Đèo Ngang
   
 VỀ ĐÈO NGANG

Đường về thơ mộng cảnh Đèo Ngang
Đồ hoạ, thiên nhiên tựa thảm vàng.
Rừng thắm, hoa đưa chim vọng hót
Biển trời sóng vỗ nước reo vang.
Bồng bềnh thuyền cá ra khơi lộng
Ngơ ngác đàn trâu tắm gió ngàn.
Suối chảy, mây bay vờn đỉnh núi
Nắng hồng rải xuống nhuộm Đèo Ngang.

                       Lê Xuân Đình
       Thị trấn Kỳ Anh – Hà Tĩnh


BẾN EM

Anh đến Bến Em(*) một buổi chiều
Non xanh nước biếc gợi tình yêu.
Trên cao ong bướm vui hoa thắm
Dưới lộ người xe vắng bóng Tiều.
Thấp thoáng lô nhô thuyền lướt sóng
Dập dìu tha thiết liễu đăm chiêu.
Bến Em đáng giá bao nhiêu nhỉ?
Có đủ trăm quan đến mĩ miều.

Nguyễn Trinh Hùng
 (*) Bến Em : Tên một bến trong khu du lịch sinh thái Đèo Ngang.


                   ĐÈO NGANG QUÊ ANH

Soi bóng Hoành Sơn xuống biển xanh
Gợi màu huyền thoại đất quê Anh.
Hồn thơ thuở ấy còn vang vọng (*)
Tiếng Cuốc đêm tàn đã chuyển canh.
“Xích Mộ” dịu dàng trăng soi bóng
“Cổng Trời” mơ mộng khói xây thành.
Nghiêng nghiêng cánh én dìu xuân đến
Mê mẩn rừng mai nụ kín cành.

Nguyễn Trinh Thuyên
(*) “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan

  
  CẢNH ĐÈO NGANG

Trời biển hoà nhau một sắc xanh
Giang sơn đệ nhất xứ Kỳ Anh.
Người đi lưu đó thơ đề vịnh
Kẻ ở còn đây trống điểm canh.
Nắng hửng lung linh sương ngấn đá
Chiều buông lãng đãng núi giăng thành
Người thơ lên núi tình xuân đượm
Luống ngại làn hương gió động cành.

                              Đèo Ngang 2007
                             
                                 
 BÊN BÓNG HOÀNH SƠN

Một dải non xanh sóng vỗ bờ
Ân tình sâu nặng tự ngàn xưa
Bể dâu bao độ hồn neo lại
Bên bóng Hoành Sơn ngân tiếng thơ.


     TRĂNG HOÀNH SƠN

Trăng lên gió mát cũng lên theo
Hùng khí linh thiêng tụ đỉnh dèo
Hoành Sơn Quan mở toang thoen cửa
Muôn ánh vàng gieo trong sóng reo.

Nguyễn Tiến Chưởng
                                    Đèo Ngang  6- 2007
                                                             
  
          VỊNH BẾN EM

Qua đỉnh Đèo Ngang ghé Bến Em
Dập dìu khách lạ với người quen.
Trên cầu Dục Ái chen chân bước
Dưới suối Xuân Tình mỏi mắt xem.
Sóng cuộn nhấp nhô chàng Cuội mến
Võng đưa đung đẩy chị Hằng ghen.
Một vùng nước Nhược non Bồng ấy
Mặc khách du thuyền giấc mộng tiên.
                                                                          Nguyễn Tiến Kiểu


      HOÀNH SƠN QUAN

Dừng bước Hoành Sơn ngắm cảnh đèo
Gió đưa hương biển quyện hoà theo.
Câu thơ vang vọng lưng chừng núi
Khúc nhạc ngân nga giữa đỉnh đèo.
Đưa bút gieo vần non chót vót
Trao nghiên hoạ bức đá cheo leo.
Thanh Quan thuở trước hay chăng tá
Ước được bây giờ há bấy nhiêu?

                                                 Dương Thái Sơn
________
Mọi đóng góp tin tức, bài viết, hình ảnh, video cộng tác xin gữi vào hộp thư HỘI ĐỒNG HƯƠNG KỲ ANH hoặc email hdhkyanh@gmail.com




Read More
Unknown

Di tích đèo Ngang bơ vơ vì tranh chấp


Hoành Sơn Quan nằm trên đỉnh đèo Ngang được cả tỉnh Quảng Bình lẫn Hà Tĩnh xếp hạng di tích thuộc tỉnh mình. Cả hai tỉnh đều lập hồ sơ di tích quốc gia nhưng đều không được công nhận... 


Di tích Hoành Sơn Quan nhìn từ Hà Tĩnh  

Việc tranh chấp dai dẳng làm cho cả khu vực đèo Ngang được đánh giá có giá trị đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc vẫn “im lìm” và bị xâm hại đáng tiếc... 

Hai tỉnh cùng xếp hạng một di tích 

Cuộc khảo sát trên đỉnh đèo Ngang của chúng tôi vào cuối tháng 6, dẫn đường là anh Đinh Trọng Tấn - cán bộ văn hóa xã Quảng Đông (Quảng Trạch, Quảng Bình). Con đường bêtông dọc theo đỉnh núi từ quốc lộ 1A dẫn vào di tích gần trùng khớp với ranh giới hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình.

 Kiến trúc Hoành Sơn Quan được xây dưới thời Minh Mạng năm 1833, nằm phía bên mái núi của tỉnh Hà Tĩnh, xây gạch trát vữa còn khá nguyên vẹn. Tấm biển “Hoành Sơn Quan” trên cổng vòm bằng đá hướng ra phía bắc, phía trước là bậc tam cấp khá vẹn nguyên dẫn xuống quốc lộ. Nhiều đoàn khảo sát khu vực đỉnh núi xác định vẫn còn rất nhiều đoạn lũy cổ, khi nằm bên địa phận Quảng Bình, khi vắt qua tỉnh Hà Tĩnh. Đây được xác định là lũy Lâm Ấp, đắp khoảng thế kỷ 2 - 3. Anh Tấn cho biết thời gian gần đây Hoành Sơn Quan liên tục bị xâm phạm. 
Vài năm trước, người dân đã tự ý xây một cái miếu lớn nằm ngay sát di tích. Đơn vị chức năng của tỉnh Quảng Bình đã nhiều lần lập biên bản và quyết định cưỡng chế, đập bỏ, hiện còn phần nền móng và một cái am nhỏ. Tiếp theo là sáu ngôi mộ có dựng bia bằng tiếng Trung Quốc đắp ngay sát di tích, chính quyền Quảng Bình phải tổ chức phá bỏ... Ông Nguyễn Mậu Nam - phó giám đốc Sở VH-TT&DL Quảng Bình - cho biết Hoành Sơn Quan là cửa ngõ phía bắc của tỉnh, được UBND tỉnh Quảng Bình xếp hạng di tích cấp tỉnh ngày 2-8-2002. Biên bản khoanh vùng bảo vệ quy định khu vực 1 là bản thân kiến trúc di tích Hoành Sơn Quan rộng 34,4m2 (6,15 x 5,6m). Khu vực 2 rộng 14.317,5m2 bao quanh. Cùng ngày 2-8-2002, UBND tỉnh Quảng Bình có văn bản gửi Bộ Văn hóa thông tin (cũ) và Cục Bảo tồn bảo tàng đề nghị xếp hạng di tích quốc gia đối với Hoành Sơn Quan...

 Trong khi đó, ông Bùi Đức Hạnh - giám đốc Sở VH-TT&DL Hà Tĩnh - đến nay vẫn không tin rằng tỉnh Quảng Bình đã công nhận di tích Hoành Sơn Quan. “Đáng ra tỉnh Quảng Bình phải tôn trọng sự thật rằng phần di tích đó nằm phía bên tỉnh Hà Tĩnh!”. 
Theo hồ sơ do Bảo tàng Hà Tĩnh cung cấp, năm 1995 UBND tỉnh Hà Tĩnh đã gửi hồ sơ đến Bộ Văn hóa thông tin đề nghị công nhận di tích quốc gia. Theo ông Nguyễn Trí Sơn - giám đốc Bảo tàng Hà Tĩnh, “có lẽ do tỉnh Quảng Bình có văn bản khiếu nại gửi bộ cho nên bộ không công nhận”. Năm 2004, đoàn khảo sát liên ngành của Hà Tĩnh đã thực địa khu vực đèo Ngang và xác định kiến trúc Hoành Sơn Quan nằm trên địa phận tỉnh Hà Tĩnh, cách đường ranh giới hai tỉnh 7,7m. Ngày 14-3-2005, UBND tỉnh Hà Tĩnh quyết định xếp Hoành Sơn Quan là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh... 
Nền móng ngôi miếu xâm phạm di tích Hoành Sơn Quan trên đèo Ngang

 Tổn thương vì...nhập nhằng 


TS Nguyễn Khắc Thái (Quảng Bình) cho rằng Hoành Sơn Quan hiện nằm trên địa phận Hà Tĩnh là do khi phân định địa giới hành chính, người ta chỉ tuân thủ một cách máy móc theo đường phân thủy mà không quan tâm, tham khảo ý kiến của các chuyên gia văn hóa. “Hoành Sơn Quan là nơi đón khách thượng kinh từ phía Bắc vào. Để quan sát được khách thì người ta phải làm ở mái núi bên ngoài (phía Hà Tĩnh). Di tích thì thuộc chính quyền Quảng Bình thời phong kiến quản lý là vì then cài phía trong Quảng Bình. Chỉ riêng chứng cứ về mặt kết cấu kiến trúc như vậy cho thấy rằng Hà Tĩnh quản lý là vô lý. Người Hà Tĩnh không thể vào trong Quảng Bình để đóng cửa được. Tấm biển đề Hoành Sơn Quan hướng ra Hà Tĩnh. Người ta hướng biển đề ra phía khách chứ không ai hướng về phía chủ nhà cả!” - TS Thái nói. 
 Các thư tịch cổ và hầu hết nhà nghiên cứu đều cho rằng trong lịch sử Hoành Sơn Quan thuộc sự quản lý của tỉnh Quảng Bình. Nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan (Huế) dẫn sách Đại Nam nhất thống chí thời Nguyễn định rõ kiến trúc này trong phần tỉnh Quảng Bình, trong khi ở mục “đạo Hà Tĩnh” chỉ nhắc đến tên và “xem ở phần tỉnh Quảng Bình”. 

Thế nhưng, theo ông Nguyễn Trí Sơn: “Nếu nói Hoành Sơn Quan là cổng vào kinh đô thì nó phải thuộc Huế mới đúng, chứ không thể thuộc tỉnh Quảng Bình được!”. Ông Sơn cho rằng tỉnh Quảng Bình công nhận di tích là sai, vì theo Luật di sản văn hóa, đã là di tích thì phải kèm theo khu vực khoanh vùng bảo vệ, phải có phần đất đai. “Trong khi Hoành Sơn Quan lại nằm trên đất Hà Tĩnh thì Quảng Bình khoanh vùng kiểu gì! Thật ra, Hoành Sơn Quan là biểu tượng văn hóa của cả khu vực, là di sản chung của đất nước chứ không riêng của tỉnh nào. Nhưng nó nằm trên đất Hà Tĩnh thì Hà Tĩnh quản lý là đúng!”... 

TS Nguyễn Khắc Thái nhận xét sự nhập nhằng trong quản lý di tích cũng làm tổn thương cho di tích. “Mạnh Hà Tĩnh thì Hà Tĩnh đưa khách lên. Mạnh Quảng Bình thì Quảng Bình đưa khách lên. Không ai có trách nhiệm quản lý, trùng tu tôn tạo cả!”. Ông Nguyễn Trí Sơn cho biết phía Bộ VH-TT&DL thừa nhận Hoành Sơn Quan rất xứng đáng để công nhận di tích quốc gia: “Nhưng khi đề cập, một vị lãnh đạo Cục Di sản văn hóa từng trả lời rằng hai tỉnh có vấn đề thì thôi, đừng làm hồ sơ nữa, đừng đẩy quả bóng ra cho bộ!”... 

 Xứng đáng là di tích quốc gia đặc biệt “Hoành Sơn vừa thiên nhiên (dãy núi), vừa nhân tạo (Hoành Sơn Quan và các lũy cổ...) là đường ranh giới giữa phần cựu thổ và tân thổ của đất nước. Vị trí này có một nội hàm cực lớn, nhắc cho mọi người nhớ đến một bước ngoặt đặc biệt của lịch sử dân tộc, khi người Việt từ vùng cựu thổ vượt khỏi đèo Ngang đi về phương Nam để mở rộng bờ cõi. VN có hai thời kỳ dựng nước. Thời kỳ đầu từ những nền văn minh Việt cổ cho đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn có các vua Hùng. Giai đoạn dựng nước lần thứ hai bắt đầu từ thời nhà Lý khi người Việt vượt khỏi đèo Ngang để đi về phương Nam trở nên một tầng lớp lưu dân làm nên những sự nghiệp lớn: vừa mở rộng vùng đất liền, vừa mở rộng vùng biển đảo. Bởi vậy, Hoành Sơn là một địa điểm lịch sử rất quan trọng, xứng đáng là một di tích đặc biệt quốc gia. Do đó cần phải có sự quan tâm nhất định, trung ương cần quyết định tỉnh nào quản lý một cách hợp lý để có hướng đầu tư, khai thác và phát huy hiệu quả!”. Nhà nghiên cứu HỒ TẤN PHAN - TH.LỘC ghi
Tuổi Trẻ
________
Mọi đóng góp tin tức, bài viết, hình ảnh, video cộng tác xin gữi vào hộp thư HỘI ĐỒNG HƯƠNG KỲ ANH hoặc email hdhkyanh@gmail.com

Read More
Unknown

Một lần với Kỳ Anh



Thế là đã chạm được bàn chân trần lên đất đai Hà Tĩnh. Phải bao nhiêu năm? Bao nhiêu năm, mới lại được một lần tha hồ mà thổn thức. Trên đầu là trời xanh Hà Tĩnh. Trước mặt là biển xanh Hà Tĩnh. Sau lưng là “Hoành Sơn nhất đái vạn đại chung thân”. Nước non non nước một vùng, quần tụ màu xanh ngàn đời của rừng của biển. Đường lượn mềm theo thế biển. Biển uốn mềm những đường cong xuân thì thiếu nữ; núi khỏe căng chạy ào xuống biển, vạm vỡ sức trai  gồng căng từng bắp núi. Mây ngàn cũng sà xuống. Thật thấp. Thật thấp. Gió rạo rực hoan ca cùng hoàng hôn chín lịm. Một góc Hà Tĩnh tôi đã chạm được bàn chân, bàn tay, ánh mắt và tâm hồn là Kỳ Anh đất nhớ. Cảng Vũng Áng rạng ngời, căng ngực trần hướng ra trùng khơi sóng cuộn.

Tôi với Hoàng Thái Cát, Nguyễn Hữu Hiếu, Nguyễn Thế Chưởng và Hà Lê (Hội thơ Hoành Sơn) đã có với nhau một chiều đầy cảm xúc. Chòng chành trên sóng nhẹ. Mực tươi xoi xói, búng mình trong lưới. Tôm cá cũng roi rói tươi nguyên. Muốn ăn con nào, chỉ vào con đó. Muốn ăn bao nhiêu, nói bấy nhiêu; giá cả không hề nói thách một tiếng. Ngộ kỳ đời là chỉ ở biển Vũng Áng, Kỳ Anh này, con mực, con cá rộng dưới nước bao nhiêu lâu cũng được, bởi vậy hải sản tươi sống lúc nào cũng sung túc gọi mời. Dân ở đây gọi món mực tươi, cá tươi là món mực nhảy, cá nhảy; phải dư dả thời gian lắm mới có thể khoanh chân ung dung ngồi vợt từng con mực, rồi để nguyên con còn sống mà thả vào nồi nước đang sôi. Mực nóng hôi hổi, phải dùng lá lốt quấn cho bớt nóng tay, rồi chấm vào bồ tạt xanh mà ăn. Cay tới trào nước mắt mới sướng.

Đèo Ngang trên núi Đãy Hoành Sơn

Men rượu ngấm say tình biển mặn. Chúng tôi đọc thơ. Chúng tôi tâm tình. Hoàng hôn sập xuống, mau như chớp mắt vào chiều. Cả một vùng biển sáng. Sáng rực đèn tàu hàng vạn tấn, neo trên cầu tàu số 1. Sáng rực đèn tàu đang hối hả thi công cầu tàu số 2. Sáng rực đèn thuyền câu hàng trăm chiếc. Và cả bầu trời cũng lóng lánh, sáng rực ức triệu vì sao. Dải Ngân Hà vắt ngang vòm trời xanh lồng lộng, cũng rực sáng như sắp bay thẳng xuống từ mấy tầng trời, dội ngọt ngào tin yêu vào ngực biển. Vịnh biển bùng sáng lửa đèn như hoa đăng đêm Hội. Ngoài xa kia, biển cả căng vồng lồng ngực đại dương, ầm ào sóng dội. Sóng làm vỡ những ánh đèn, phún màu lóng lánh, lung linh như thảm dệt kim cương. Cả một vùng kinh tế mở của Kỳ Anh, Vũng Áng sẽ mở đường cho hàng hóa vượt sóng trùng khơi rong ruỗi. Từ đây, gỗ băm dăm mỗi lần xuất đi hàng vạn tấn. Từ đây, cát đen chứa đầy êminhít và linconme mỗi lần cũng xuất đi hàng vạn tấn. Cả clinke. Cả quặng thiếc. Và cả những gì trong tương lai Hà Tĩnh vươn mình lớn dậy. Cảng Vũng Áng đang trên đường xây mới, nhưng tàu năm vạn tấn đã từng cập vào “ăn hàng” xuất ngoại. Nay mai, bốn cầu cảng hoàn thành, biết đâu ở xứ từng một thời heo hút vượn hú chim kêu này, lại là khu đô thị sầm uất của duyên hải miền Trung.



Tôi đã tận mắt thấy những cánh đồng tôm đang cựa mình trong cơn sinh nở. Tôm sú. Tôm đất. Cả tôm hùm, cá bống mú, với chim, thu, nhụ, đé ngoài trùng khơi. Bản đại hợp xướng của Kỳ Anh đang rung ngân giai điệu của chặng đường công nghiệp hóa, hừng hực thế xoài ra biển cả đi lên.



Những cánh đồng ngàn năm khô khát, tưởng sẽ chết cằn trong giấc mơ lúa gạo, giờ thoắt chuyển mình thành khu công nghiệp. Những cô Tấm tảo hiền sắp sửa thành công nhân xí nghiệp. Những chàng trai làng bắt đầu nghĩ tới những chuyến đi xa. Xé vỏ thị bà tiên làm chuyện bất ngờ, chỉ còn trong gang tấc. Gió Kỳ Phong lộng thổi tới Kỳ Nam. Chín cô gái Kỳ Phương xưa bắn hạ tàu bay Mỹ, nay đã thành bà thành mẹ, họ nghĩ gì về tương lai con trẻ, khi mà ngay trên quê hương cát trắng của mình, từng có hai anh em nối nhau đỗ trạng nguyên, bãng nhãn. Ngày ấy, gió Lào thổi như nung như nấu, cát Kỳ Phương nóng bỏng như rang. Bọn giặc lái Hoa Kỳ coi thường vùng quê nghèo khô khát, từ biển quạt sóng bay vào, thấp tới cát bay lá cuốn. Chín cô gái giữa trưa ra vùi mình trong cát, dùng trung liên hạ phản lực giữa ban ngày, khiến sức mạnh không lực Hoa Kỳ, từ đó không còn dám hung hăng làm tàng làm phách. Cả chín cô giờ đây còn đủ cả, chỉ chiếc tàu bay xâm lược là biến mất đi đâu.



Tôi đã đọc bản thảo tập thơ kỷ niệm 170 năm Kỳ Anh thành lập của Hội thơ Hoành Sơn, chợt nhớ năm nào Bà huyện Thanh Quan dừng chân dốc cổng trời, vịnh Đèo Ngang chạy dọc. Giờ Hoành Sơn Quan đang ở ngay trước mắt. Từng tảng đá mòn lì bước ông cha trên dặm đường thiên lý, mở đất về phương Nam. Những đàn sáo đã qua đây. Những chiếc thuyền nan thuyền gỗ cũng đã ngang qua đây. Tổ quốc trải dài theo thế biển. Hút hút dưới chân đèo, nào thấy bóng tiều phu, chỉ thấy xóm làng đang dựng lên thành phố. Con đèo lượn như cung đàn âm vang ngàn giai điệu. Đường hầm khoan thẳng vào ruột núi, vút như một mũi tên, phóng thẳng vào phương Nam rực nắng.  Đường hầm thẳng đẹp là thế, biết bao đá hoa cương rực ánh đèn cao tốc, vút vút chạy xuyên trong lòng đất, vậy mà rất nhiều xe cộ và hành khách vẫn cứ thích vượt đèo theo con đường cũ. Không phải họ hoài vọng một con đường thời Pháp thuộc, ấy là họ thích thả hồn theo thế đèo uốn lượn sát mép sóng trùng khơi. Mùa hè, dừng lại đâu đó trên lưng chừng đèo, hái một túi sim, túi mua, túi muồng, tìm tảng đá gốc cây, ngồi bên nhau ngắm mây ngàn gió núi, biết đâu thi tứ dâng trào, tình dâng lai láng.



Nhớ bao niêu năm trước, tôi đã ở Kỳ Tiến với bao nhiêu kỷ niệm. Chị Võ Thị Túy với bé Nhung. Chị Võ Thị Túy với bà con xóm nghèo mà chứa chan tình cảm. Một rỗ khoai từ. Một rá khoai môn. Một lời dặn nhớ trở về cưới vợ. Chúng tôi vào chiến trường B2 trong ấm áp tình thương của chị. Bao nhiêu đứa đã nằm xuống dọc theo những nẻo đường lửa máu. Tôi trở về nguyên vẹn tin yêu, trước tấm lòng chị dành cho tôi trên đường vào hỏa tuyến. “Hiến dâng” là tập truyện ngắn đầu tay sau hòa bình, tôi trân trọng viết tặng riêng cho chị và bà con Kỳ Tiến, Kỳ Anh. Vậy mà nay?.. Tôi đã ngồi trên nhà bè Vũng Áng, đã leo tận Hoành Sơn Quan, đã đứng bên Mũi Đao lộng gió… nhưng lối về Kỳ Tiến vẫn cứ xa thăm thẳm. Âu là duyên nợ còn dài để mà thương mà nhớ. Bé Nhung hôm nay chắc đã thành người mẹ? Không biết gia đình em có khá giả, hay vẫn còn long đong lận đận. Tôi đã gặp trên những chặng đường đèo chang chang nắng hạ, còn những trẻ tranh thủ lúc coi trâu, coi bò, ngồi phơi nắng bán từng rỗ sim. Cầu phúc cho em Nhung ơi! Thuở ấy mắt em đen lắm. Tóc em xanh lắm. Đó là sắc màu của Kỳ Anh không lẫn vào đâu được. Anh nhớ giọng em mềm như nắng sợi. Từng lời như rưới nhớ vào tim. Thế mà đã bao nhiêu năm xa cách!.. 



Hôm nào ở Hà Nội, nhà báo Như Bình nói như đinh đóng cột: “Con gái Hà Tĩnh quê em, đứa mô cũng đẹp!”. Nhớ lại vóc dáng của em, giọng nói của em, ánh nhìn của em… Nhung ơi, anh rất tin điều đó. “Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh”. Nhớ về Hà Tĩnh là nhớ về Kỳ Tiến, Kỳ Thư, Kỳ Liên, Kỳ Đồng, Kỳ Ninh… để mà kỳ vọng. Anh kỳ vọng mùa nắng Kỳ Anh sẽ hong đầy tóc gió, rối lòng nhau khao khát tìm thương.



Đường 12 đã mở gần xong. Lối qua Lào, sang Thái sẽ rất gần. Cảng Vũng Áng sẽ nhận hàng từ nước bạn quá cảnh vào Đông Nam Á. Em có tự hào không, khi quê mình có một cảng nước sâu đẹp tuyệt vời như thế. Tám đến mưới mét nước độ sâu ngay mép biển. Bên phải là Mũi Ròon, bên trái là hòn Cao Vọng; vịnh biển uốn một đường cong say lòng biển lớn. Từ phao số 0 vào gần lắm. Lòng cảng lại không cần nạo vét hàng năm. Em có hiểu điều đó có ý nghĩa kinh tế đến nhường nào? Khi mà tàu năm vạn tấn có thể vào ra dễ dàng, đến mức dường như không cần tàu hoa tiêu dẫn dắt. Niềm tự hào sẽ nhân đôi, khi mà Vịnh Sơn Dương sau này được đưa vào khai thác.



Và Nhung ơi! Từ Kỳ Tiến, đã bao giờ em đến núi Bàn Đọ, nơi từng một thời hươu rừng đi dày như lá ở trên cây. Trên biển tím Kỳ Ninh chiều nay, vui với bao người đang trầm mình trong biển biếc, anh muốn nói với em một điều rất thật. Rằng thuở ấy, từng một thời Kỳ Anh mình nghèo lắm. Dân Kỳ Hải, Kỳ Châu, Kỳ Ninh, biết bao người bỏ làng vào Nam hy vọng đổi đời; nhưng đất đỏ bazan nơi cao nguyên Daklak, Gia Lai, với bạt ngàn tiêu, cà phê, cao su có thay nổi đời người, khi mà con người cứ mỗi ngày mỗi nhớ quê canh cánh. Giờ biển Kỳ Ninh dập dìu du khách, người ta lại lục tục tìm về. Làng xóm mỗi ngày mỗi thay màu áo mới. Điện đèn đêm đêm sáng rực như sao trên trên đồng, trên biển. Dòng sông Vịnh mở ra biển lớn mênh mông nước trời, với cửa biển Hải Khẩu, với những cánh đồng tôm đẹp tới nao lòng.



Mới chiều nay, anh với Hà Lê vừa viếng thăm đền thờ Chế Thắng Phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu- người tuẫn tiết để cứu cả đoàn quân Nam chinh mở đất. Thắp nén hương trước linh mộ của Bà, anh đã nguyện cầu được một lần trở lại, được thăm em, thăm mẹ, được thấy dân mình ai cũng giàu có, ăn nên làm ra. Chế thắng Phu nhân nằm xuống đã bảy trăm năm, nhưng mỗi ngày vẫn linh hiển với vạn biển quê mình, trong từng chuyến vạn biển ra khơi. Linh khí đất trời tích tụ từ ngàn xưa, nay đã 170 năm, kể từ ngày  Kỳ Hoa – Kỳ La tách ra thành Kỳ Anh tên đất, đang tiếp tục làm nên biết bao điều kỳ diệu. Như làng Tượng, nơi người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ- Hồ Thơm- từng dừng binh luyện voi để ba lần ra Bắc, giờ đã sầm uất một thị trấn Voi đông đúc biết ngần nào.



Người dân Kỳ Anh tin vào sự linh hiển của Chế thắng Phu nhân Bích Châu, là đức tin tâm linh có cội nguồn lịch sử. Ngày ấy, bà cùng chồng hành binh từ xứ sở Chăm Pa về tới đây, thốt dông tố nổi lên mịt mờ biển sóng. Trước nguy cơ đoàn chiến thuyền bị nhận chìm trong gang tấc, bà đã xõa tóc khấn nguyện an bình, rồi gieo tấm thân ngọc ngà xuống biển sâu hiến tế. Nhờ thế mà biển lặng trời yên trở lại. Có tích lại cho rằng, bà cùng chồng dẫn quân giáp chiến, chẳng may trúng thương phải trở về. Ngang qua vịnh biển Kỳ Ninh, biết mình đang cơn nguy kịch, luôn cần người túc trực chăm lo, để tránh cản trở việc quân của Triều đình, bà đã lạy tạ nhà vua rồi gieo mình tuẫn tiết. Xác bà được sóng gió đưa vào cửa Hải Khẩu sông Vịnh. Long thể qua mưa gió bão bùng suốt mấy ngày đêm, vẫn hồng hào như chỉ mới thiếp vào giấc ngủ. Năm ấy cũng là năm lũ lớn ở thượng nguồn, đất cát từ non cao ùn về tả ngạn Hải Khẩu, đụn thành gò cao ngời ngợi. Lại thêm đinh, lim, sến, táu bị bị lũ xiết cuốn về, nhiều không biết cơ man nào mà kể. Vạn biển Kỳ Ninh đã  táng mộ Bà trên gò ấy, cất đền thờ Bà bằng gỗ ấy. Gò cao lộng gió, cây tốt bời bời, xum xuê rợp cả một vùng qua năm tháng.



Khi về tới Thăng Long, Trần Thánh Tông đã nhiều lần cho thuyền binh vào cải táng hài cốt Chế thắng Phu nhân; nhưng lần nào cũng vậy, khi binh thuyền triều đình vào tới nơi, thì đang không, trời bỗng nổi gió mùa Đông Bắc. Quá tam ba bận. Biết linh thể của Bà không muốn rời xa vịnh biển, nhà vua đành sai người mài đá khắc bài vị cho Bà. Bà ở lại với vạn biển Kỳ Ninh đã gần bảy trăm năm. Linh hiển cứu đỡ vạn chài mỗi khi bão sóng. Tiếng đồn nức cả một dải duyên hải miền Trung dài dằng dặc. Khi Kỳ Anh chìm trong mưa bom bão đạn, thời giặc Mỹ leo thang gây chiến tranh phá hoại, chúng đã san phẳng nhiều nơi thành tro bụi, nhưng đền thờ Chế thắng Phu nhân, cho dù lỗ chỗ vết đạn bom, vẫn cứ trầm mặc uy nghi cùng năm tháng; mộ Bà không một mảnh bom mảnh pháo nào ghim vào được. Từ đây, nhìn phóng qua phá biển mênh mông ken dày sú vẹt, dãy Hoành Sơn sừng sững án ngữ cả một vùng trời nước đẹp như thơ. Kỳ Anh dựa vào Hoành Sơn nhất đái, vin vào lịch sử mà vượt qua sóng gió, vũng bước đi lên theo hướng mở ra biển rộng.



Nhung ơi, Em hãy tin! Hãy tin vào thế núi Hoành Sơn! Hãy tin vào một vùng mênh mông trời biển, sừng sững non cao, đang từng ngày đổi mới!

Tạm biệt nhé! Dặm đường thiên lý lại gọi anh cùng thời gian đang gọi. Nhưng Nhung ơi, Kỳ Anh trong tâm thức của anh đã trở thành điểm hẹn. Cung đường Bắc – Nam vắt qua nơi này, có bao giờ quên được!

Biển vẫn ngời xanh. Núi vẫn ngời xanh. Đồng ruộng vẫn ngời xanh. Tất cả vẫn ngời xanh. Xanh đến tột cùng màu xanh Kỳ Anh nao lòng muốn khóc. Khóc vì nhớ. Khóc vì thương. Khóc vì không thể cầm lòng không khóc.

Kỳ Anh. Kỳ Anh ơi!

                                                                                                

Kỳ Anh, 23.7.06
Bút ký
Hồ Tĩnh Tâm




Read More
Unknown

Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ



(Người Kỳ Anh) “Trèo đèo hai mái chân vân / Lòng về Hà Tĩnh dạ ân Quảng Bình”. Đèo Ngang là con đèo lịch sử đã đi vào ca dao, huyền thoại.
Nhiều danh nhân- thi sĩ như Lê Thánh Tông, Nguyễn Thiếp, Vũ Tông Phan, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Bà huyện Thanh Quan ... đã lưu dấu tại đèo Ngang những tuyệt phẩm thơ. Đặc biệt, bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan rất nổi tiếng.


CỬA ROÒN


Tây Hoành Sơn thấy rõ Di Luân
Cát trải mênh mông tiếp biển gần
Sóng nước đá nhô xây trạm dịch
Gió sông sóng dựng lập đồn quan
Muối Tề sân phố mời thương khách
Rượu Lỗ quầy bàn tiếp thị dân
Muốn nhắn Ma Cô 2) nhờ hỏi giúp
Bụi trần Nam Hải có xua tan.

Trần Châu Báu Di Luân cẩn dịch


DI LUÂN HẢI TẤN

Hoành Sơn tây vọng thị Di Luân 1)
Diễu diễu bình sa tiếp hải tần
Yên thủy sa đầu phân dịch thứ
Phong đào giang thượng kiến quan tân
Tề diêm trường phố yêu thương khách
Lỗ tửu bồi bàn túy thị nhân
Dục phỏng Ma Cô bằng ký ngữ
Nam minh kim dĩ tức dương trần

Lê Thánh Tông trên đường chinh phục Chiêm Thành năm 1469
1) Di Luân : Cửa Roòn ngày nay; 2) Ma Cô: Đền Liễu Hạnh công chúa phía nam Đèo Ngang tại xã Quảng đông. Di tích kiến trúc, nghệ thuật tôn giáo được xếp hạng.
Nguồn: Wikimapia


Nguyễn Thiếp

Đã trót lên đèo, phải xuống đèo
Tay không mình tưởng đã cheo leo
Thương thay thiên hạ người gồng gánh
Tháng lọn ngày thâu chỉ những trèo!

Vào khoảng đầu năm 1803, lúc Nguyễn Thiếp 80 tuổi, vua Gia Long đã triệu ông vào Phú Xuân để hỏi việc nước. Trên đường về, khi qua đỉnh đèo Ngang, ông đã cảm khái đọc bài thơ Nôm trên.
Nguồn: DANHNHANVIET


QUA LUỸ NINH CÔNG NHỚ CHUYỆN XƯA

Vũ Tông Phan

Đất này ví thử phân Nam, Bắc
Hà cớ năm dài động kiếm dao?
Trời tạo Hoành Sơn còn chẳng hiểm,
Người xây chiến lũy tổn công lao.
Thắng, thua rốt cuộc phơi hoang mộ,
Thù hận dư âm rợn sóng đào.
Thiên hạ nay đà quy một mối
Non sông muôn thuở vẫn thanh cao.

QÚA NINH CÔNG LŨY HOÀI CỔ

Nhược tương thử địa phân Nam Bắc,
Hà sự kinh niên động giáp bào?
Thiên tạo Hoành Sơn do vị hiểm,
Nhân vi cô lũy diệc đồ lao.
Doanh thâu để sự không di chủng,
Sát phạt dư thanh đái nộ đào.
Vũ trụ như kim quy nhất thống,
Mạc nhiên sơn thủy tự thanh cao.

Người dịch: Vũ Thế Khôi
Nguồn: Đào Trung Kiên (Thi Viện)

LÊN ĐÈO NGANG NGẮM BIỂN

Ngô Thì Nhậm

Bày đặt khen thay thợ hóa công,
Khéo đem hang cọp áp cung rồng.
Bóng cờ Trần đế (1) dường bay đó,
Cõi đất Hoàn vương (2) thảy biến không.
Chim đậu lùm xanh, xanh đã lão,
Ngạc đùa sóng bạc, bạc nên ông.
Việc đời bọt nổi, xưa nay thế,
Phân họp giành trong giấc hạc nồng (3)

Bản dịch của Nguyễn Sĩ Lâm

ĐĂNG HOÀNH SƠN VỌNG HẢI

Tạo hóa đương sơ khổ dụng công,
Khước tương hổ huyệt xấn giao cung.
Hoàn vương phong vực qui ô hữu,
Trần đế tinh kì quải thái không.
Tình thụ thê cầm thương dục lão,
Nộ đào hí ngạc bạch thành ông.
Vô cùng kim cổ phù âu sự.
Phân hợp du du hạc mộng trung.

Chú thích:
(1) Trần đế:Các vua đời Trần.
(2) Hoàn vương: Chiêm Thành.
(3) Giấc hạc: Giấc mộng hạc. Câu thơ ý nói cuộc tranh giành đất đai giữa Đằng Ngoài và Đằng Trong chẳng qua chỉ là giấc mộng trần thế sẽ tiêu tan.

QUA ĐÈO NGANG

Nguyễn Du

Họa Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn 1)

Tiến về Nam qua đèo Ngang
Hành trình đầy đủ gươm đàn mang theo
Thuốc thần nào đã tới đâu
Mảnh da beo vẫn mối đầu lụy thân
Ánh mầu nước, chén rượu xanh
Dõi theo vó ngựa một vành trăng quê
Gặp gia huynh hỏi xin thưa 2)
Đường cùng tôi gặp, tóc giờ điểm sương

HOẠ HẢI ÔNG ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

Hoành Sơn sơn ngoại lĩnh nam trình
Cần kiếm tương thuỳ thướng ngọc kinh
Thỏ tuỷ vị hoàn tân đại dược
Báo bì nhưng luỵ cựu phù danh
Thương minh thuỷ dẫn bôi trung lục
Cố quốc thiềm tuỳ mã hậu minh
Thử khứ gia huynh như kiến vấn
Cùng đồ bạch phát chí tinh tinh

Nguyễn Tâm Hàn phỏng dịch

Trich Hai Ông Tập. Họa vần bài thơ "năm Giáp Dần (1794), vâng mệnh vào kinh Phú Xuân, lúc lên đường lưu biệt các bạn ở Bắc Thành" của Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn
Đoàn Nguyễn Tuấn là con Đoàn Nguyễn Thục, đỗ Hương Cống đời Lê, có chiêu mộ người làng giúp Trịnh Bồng đánh Chỉnh, sau ra giúp Tây Sơn, làm đến chức Tả Thị Lang Bộ Lại, tước Hải Phái Bá. Có đi sứ Trung Quốc năm 1790 và có tập thơ nhan đề Hải Ông tập. Ông là anh vợ Nguyễn Du, hơn Nguyễn Du khoảng 15 tuổi.


LÊN NÚI HOÀNH SƠN

Cao Bá Quát

Muôn dặm đường đi núi lẫn đồi,
Bên non cỏ nội tiễn đưa người.
Ai tài kéo nước nghìn năm lại ?
Trăm trận còn tên một lũy thôi.
Ải bắc mây tan mưa dứt hạt,
Thôn nam nắng hửng sớm quang trời.
Xuống đèo mới biết lên đèo khổ,
Trần lụy, sao đành để cuốn lôi ?

ĐĂNG HOÀNH SƠN

Sơn ngại thanh sơn vạn lý Trình,
Sơn biên dã thảo tống nhân hành.
Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc,
Chinh chiến không tồn nhất lũy danh.
Bắc lĩnh đoạn vân thu túc vũ,
Nam trang sơ hiểu đái tân tình,
Há sơn phản giác đăng sơn khổ,
Tự thán du du ủy tục tình!

Người dịch: Nguyễn Quý Liêm
Nguồn: Lương Sơn Thi Đàn


ẢI HOÀNH SƠN

Cao Bá Quát

Non cao nêu đất nước,
Liền một dẫy ra khơi.
Thành cũ trăm năm vững,
Ải xa nghìn dặm dài.
Chim về rừng lác đác,
Mây bám núi chơi vơi.
Chàng Tô nấn ná mãi,
Tấm áo rách tơi rồi.

HOÀNH SƠN QUAN

Địa biểu lập sàn nhan,
Liêu phong đáo hải gian.
Bách niên khan cổ lũy,
Thiên lý nhập trùng quan.
Túc điểu sơ đầu thụ,
Qui vân bán ủng sơn.
Trì trì Tô Quí tử,
Cửu tệ vị tri hoàn.

Bản dịch của Hóa Dân
Nguồn: Lương Sơn Thi Đàn


QUA ĐÈO NGANG

Bà huyện Thanh Quan

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.


BỘ ĐÁO HOÀNH QUAN

Bộ đáo Hoành Quan nhật dĩ tà,
Yên ba gian thạch, thạch gian hoa.
Tiều quy nham hạ, ta ta tiểu,
Thị tập giang biên, cá cá đa.
Đỗ vũ tâm thương, thanh quốc quốc,
Giá cô hồn đoạn, tứ gia gia.
Đình đình trữ vọng: thiên, sơn, hải,
Nhất phiến cô hoài, ta ngã ta.

Bản dịch chữ Hán của Nguyễn Văn Thích


QUÁ HOÀNH SƠN

Quá Hoành Sơn đỉnh tịch dương tà
Thảo mộc tê nham diệp sấn hoa
Kỳ khu lộc tế tiều tung yểu
Thác lạc giang biên điếm ảnh xa
Ưu quốc thương hoài hô quốc quốc
Ái gia quyện khẩu khiếu gia gia
Tiểu đình hồi vọng thiên sơn thuỷ
Nhất phiến ly tình phân ngoại gia

Bản dịch chữ Hán của Lý Văn Hùng
Nguồn: Đào Trung Kiên (Thi Viện)

Người Kỳ Anh


Read More