Unknown

Đền Phương Giai trên Người Kỳ Anh đươc đưa lên Wikipedia



1.    Tên di tích: Đền thờ Phương Giai
2.    Loại công trình: Đền
3.   Loại di tích: Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật
4.    Quyết định: Đã xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 3211-QĐ/BT  ngày 12 tháng 12 năm 1994
5.    Địa chỉ: xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

6.    Tóm lược thông tin về di tích.
       Đền ở làng Phương Giai, tổng Cấp Dẫn, nay là xã Kỳ Bắc, có ba toà thượng, trung, hạ đường xếp theo hình chữ “tam” xây trên khu vườn rộng khoảng 1 mẫu rưỡi, xung quanh cây cối xanh tốt.
Đền Phương Giai thờ Hoàng giáp Dương Trí Tri, một ông quan có tài và nhiều công lao to lớn trong việc bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân vào thời nhà Mạc. Tục truyền rằng vào thời đó tại vùng phía bắc huyện Kỳ Anh có dịch bệnh đậu mùa trẻ em , ông Hoàng giáp chỉ có những vị thuốc Nam đã cứu được rất nhiều trẻ em thoát khỏi nạn dịch trở về cuộc sống. Ông được suy tôn Thành Hoàng Làng. Với công lao đó sau khi ông mất nhân dân địa phương đã lập đền thờ.
Ông Dương Trí Tri (có sách chép Phùng Trí Tri), người xã Duy Liệt, sau là Liệt Thượng (nay là xã Kỳ Phú). Ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định đời Mạc Phúc Nguyên (1547), làm quan đến chức Hàn lâm, thường gọi “Quan Hoàng Liệt Thượng”.

Ở địa phương có giai thoại: Sau khi ông đỗ, vua gả công chúa, ông không chịu lấy, nên vua bắt phải tự sát. Chuyện ấy chắc là những người nhà Lê bịa ra để nói xấu nhà Mạc, vì Đăng khoa lục chép là ông làm quan nhà Mạc đến chức Hàn lâm.

Sau khi ông mất, dân làng Phương Giai và một số làng khác dựng đền thờ. Tương truyền “Quan Hoàng” rất giỏi thuốc, ai đau ốm đến cầu Thần xin thuốc đều lành bệnh. Có lần, trong vùng có dịch đậu mùa, Thần cho thuốc chữa, nên không có ai chết…Về sau, dân trong vùng không nhớ tên Thần là gì, chỉ biết đền Phương Giai thờ ông thầy thuốc”.

- Đền xây dựng trên diện tích một mẫu 5 sào Trung Bộ, cao hơn diện tích xung quanh 1,5m ngoảnh mặt hướng đông bắc. Ngày xưa đền có ba tòa, kết cấu chữ Tam lợp ngói vẫy, có tường bao quanh. Ngày nay do chiến tranh và thiên nhiên tàn phá hệ thống tường, cột nanh, cổng tam quan, nhà Thượng điện bị phá huỷ, chỉ còn lại nhà Hạ điện và Trung điện. Kiến trúc các ngôi nhà đơn giản, theo lối truyền thống của nhân dân địa phương.

Đền Phương Giai ngoài ý nghĩa tâm linh, trong giai đoạn lịch sử hiện đại còn có ý nghĩa lịch sử cách mạng, đó là nơi diễn ra Đại hội thành lập Đảng bộ huyện Kỳ Anh và trụ sở UBND huyện Kỳ Anh trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Năm 1930 đền là nơi hoạt động bí mật của Đảng cộng sản, là nơi chi bộ Đảng bộ kỳ Anh thành lập và bầu ra ban chấp hành Đảng bộ gồm 7 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Tiến Liên làm bí thư. Đại  hội đã vạch ra cương lĩnh hoạt động, nhằm phát triển Đảng viên và giải phóng nhân dân, tại đây là điểm xuất phát của nhân dân vùng ngoài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng đã bình tĩnh cướp được huyện lị Kỳ Anh năm 1930. Trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ nơi đây nhiều lần tổ chức hội họp của Đảng, nơi cất giữ nhiều tài liệu bí mật của Đảng.

Trong thời kỳ chống Pháp và Mỹ đền thờ Phương Giai là nơi làm trụ sở cho UBND Xã, nơi dãy bổ túc văn hóa cho nhân dân trong bình dân học vụ. Đầu thế kỷ XX, dân trong làng giác ngộ cao, đền lại kín đáo, dễ bố trí việc canh phòng, bảo đảm bí mật, an toàn, nên các đảng viên Tân Việt và Cộng sản đều lấy đền Phương Giai làm nơi lui tới, gặp gỡ, bàn bạc công việc. Trong hai ngày 4 và 5 tháng 6 năm 1930, đền Phương Giai là nơi được chọn làm địa điểm họp Hội nghị thành lập Đảng bộ Đảng cộng sản huyện Kỳ Anh, bầu Ban huyện uỷ 7 người, do ông Nguyễn Tiến Liên làm Bí thư (Theo “Lịch sử Đảng bộ huyện Kỳ Anh” XB. 6/2003). Năm 1994, được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp bằng di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia. Hiện nay đền Phương Giai được tôn tạo thành một di tích vừa có ý nghĩa lịch sử vừa có ý nghĩa cách mạng.

Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Dạo bước Hoành Sơn trên quần thể danh thắng đèo Ngang



(Người Kỳ Anh) Xuôi theo Quốc lộ 1A qua địa phận Hà Tĩnh, cảnh sắc thay đổi đột ngột bởi một dãy núi cao cắt ngang hình thái địa lý bằng phẳng và xuôi chiều theo hướng Bắc - Nam vốn rất quen thuộc ở vùng đất duyên hải Bắc Trung bộ.
  

Dãy Hoành Sơn là một phần của dải Trường Sơn hùng vĩ đột ngột xoay ngang như một lưỡi kiếm chém thẳng ra biển. Cũng chính dãy núi cắt ngang đột ngột này đã tạo nên phần ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh - Quảng Bình. Đây cũng từng là biên giới tự nhiên giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài của một thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. 

Con đèo nối liền hai phía Bắc - Nam của dãy Hoành Sơn từng ghi dấu bằng bài thơ “Qua Đèo Ngang” nổi tiếng, cũng là nơi yên nghỉ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một vị tướng quân kiệt xuất, một trong 10 vị tướng giỏi nhất trong lịch sử thế giới. Hầm đường bộ xuyên qua lòng Hoành Sơn ngày nay đã trả lại cho cung đường Đèo Ngang vẻ đẹp vốn có của nó và một không gian thưa vắng, không ồn ào tiếng động cơ, không có những tiếng rít bánh xe sau mỗi khúc cua hóc hiểm.

 Đèo Ngang ngày nay mềm mại, uốn lượn giữa một bên mây vờn đỉnh núi như chốn hư ảo bồng lai và ở phía bên kia là biển xanh, mây trắng, sóng trào.  

Trên đỉnh Hoành Sơn từ cung đường Đèo Ngang, rẽ xuôi về phía biển theo một con đường nhỏ chỉ chừng 500m thấp thoáng giữa rừng thông là di tích Hoành Sơn quan, quan ải kiểm soát việc đi lại giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài. Cửa Hoành Sơn cao hơn 4m, hiện còn nguyên vẹn, cùng hai nền móng của tường lũy bằng đá chạy theo hai hướng vào núi và xuống biển. Trước đây phía cửa mỗi bên có 1.000 bậc đá để lên xuống.

 Nay cửa bên nam không còn bậc đá, bên bắc chỉ còn khoảng vài trăm bậc, nhưng đã được tu sửa lại nhiều. Đứng trên đỉnh Hoành Sơn nhìn về biển phía Nam đèo sẽ thấy biển Hòn La, Vũng Chùa, Đảo Yến... xuống dưới chân đèo là đền thờ Liễu Hạnh, nằm trong cụm di tích, danh thắng gồm Đèo Ngang, Hoành Sơn quan, lũy Hoàn Vương, đình Vĩnh Sơn. Còn từ cửa Hoành Sơn quan trên đỉnh đèo nhìn xuống phía bắc là hồ nước U Bò nay đã bị hầm đường bộ xuyên qua đèo chạy cắt ngang chia hồ nước làm hai. Phía xa hơn là hồ nước Quảng Đông lấp lánh như tấm gương lớn phản chiếu bóng mây trời. 

Thỏa thuê dạo bước Hoành Sơn, trải nghiệm một cung đường đèo đẹp như tranh thủy mạc, mãn nhãn với thiên nhiên thủy tú. Dù chia tay cung đèo để vào Nam hay ra Bắc thì ở cả hai phía chân đèo đều có những bãi biển nhỏ nhắn, xinh đẹp và xanh mát cùng rất nhiều đặc sản hấp dẫn làm thỏa lòng vãng khách. Ở chân đèo phía nam, các bãi tắm Hòn La, Quảng Đông, Cảnh Dương với rừng dương xanh mướt, cát vàng óng ánh cùng các đảo ở ngoài khơi Vũng Chùa như Hòn La, Hòn Vụng Chùa, Hòn Cỏ, Hòn Gió, Đảo Yến tạo thành những thắng cảnh tuyệt đẹp.



Bình minh trên bãi biển Hoành Sơn, biển vắng trong ánh ban mai

Muốn ra thăm đảo cũng chỉ mất chừng 20-30 phút đi thuyền. Chân đèo Ngang về phía Bắc lại có bãi tắm Đèo Con sạch đẹp, bãi cát dài thoai thoải, mát mẻ và kín gió, những ngọn núi với hình thế đặc biệt như núi Cao Vọng, núi Ô Tôn, núi Bàn Độ, Vũng Áng tạo nên quần thể danh thắng bắc đèo Ngang mang một vẻ đẹp riêng không kém phần hấp dẫn. Những bãi tắm nhỏ, hoang sơ cùng rất nhiều món đặc sản biển tươi nguyên sẽ là nơi dừng chân lý tưởng cho những du khách sau khi thỏa mãn độ đèo.

Vũ Thanh
Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Hoành Sơn - Kỳ Anh



(Người Kỳ Anh) Bãi Hoành Sơn thuộc địa phận xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh – cách chân đèo Ngang chưa tới 2km, điểm cuối cùng của Hà Tĩnh, nơi tiếp giáp Quảng Bình. Nơi đây đã từng là ranh giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành trong lịch sSơn

Đèo Ngang là con đèo vượt dãy Hoành Sơn, là một chốt hiểm yếu trên con đường thiên lý Bắc – Nam. Đèo Ngang nổi tiếng không chỉ vì yếu tố lịch sử mà còn là một thắng cảnh nổi tiếng của dải đất miền trung đầy nắng gió. Trên đỉnh đèo có Hoành Sơn Quan, được xây từ thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, vẫn đứng sừng sững qua bao mưa nắng thời gian cho tới bây giờ… Đèo Ngang đã trở thành một huyền thoại đi vào văn chương, thi ca.

Tìm một chặng nghỉ chân trước khi vượt qua con đèo và dãy Hoành Sơn, tôi đã dừng lại ở bãi biển Hoành Sơn. Nằm ngay dưới chân đèo Ngang, đúng hơn là nằm ngay ngã ba từ tuyến quốc lộ 1A đi sát biển phân nhánh – một nhánh lên đèo theo con đường xưa cả ngàn năm, một nhánh đi xuyên hầm Đèo Ngang qua núi, bãi biển Hoành Sơn hoang sơ và lẩn khuất…

Bãi Hoành Sơn thuộc địa phận xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh – cách chân đèo Ngang chưa tới 2km (theo hướng quốc lộ Bắc – Nam), phía bên kia là địa phận Quảng Bình. Có lẽ ở nơi “tận cùng” này, mọi thứ vẫn còn hoang sơ như con đèo và dãy Hoành Sơn hùng vĩ.

Bãi biển Hoành Sơn được dãy núi bao bọc che chở nên kín đáo và lặng gió; nước trong, xanh ngắt. Nơi đây thừa hưởng khí hậu cũng như phong cảnh của cả biển và núi rừng. Ở bãi biển có thể nhìn thấy dãy Hoành Sơn  – dãy núi chạy từ dải Trường Sơn – kéo ra tận biển Đông. Ở đó cũng có những bãi đá lô xô lan từ núi ra biển như như bãi “đá nhảy” như nhiều bãi biển miền Trung…

Bãi biển Hoành Sơn nhỏ, hẹp, không thể là những bãi tắm hoành tráng mang tính công nghiệp du lịch ở miền trung như Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An)… nhưng lại gây ấn tượng bởi sự hùng vĩ và hoang sơ của thiên nhiên, sự giản dị của cuộc sống con người. Bãi biển Hoành Sơn chắc chắn sẽ hấp dẫn những người ưa phiêu lưu, khám phá. Thử xem, một buổi chiều trên bãi biển, trời man mác, không có ai và bất chợt một… đàn bò hiện ra. Dải Hoành Sơn đâm ra biển xanh mờ, những con sóng chồm lên bãi đá… Và thử xem, buổi chiều lên con đèo và xuống khi trời muộn; vẳng nghe thơ Bà Huyện Thanh Quan: “Một mảnh tình riêng ta với ta…”./.

Vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Hoành Sơn

Bình minh trên bãi biển Hoành Sơn, biến vắng trong ánh ban mai


Chỉ có những con sóng tràn lên bờ cát, lên những bãi đá. Phía xa là dải Hoành Sơn xanh mờ nhô ra biển


Vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Hoành Sơn


Những viên đá vùi trong cát và rêu phủ xanh


Thấp thoáng bóng dáng những ngư dân


Kỳ vĩ sóng vỗ những mõm đá nhọn hoắt


Khi con sóng rút đi…


Buổi chiều, biển như bình yên và buồn hơn


Con thuyền cô đơn cũng đang ngơi nghỉ


Bãi đá và những mảng rêu cũng lặng lẽ


Một bức tranh của biển để lại


Đàn bò thủng thẳng đi về…


Nơi đây còn rất hoang sơ và bình yên!

Người Kỳ Anh



Read More
Unknown

Đồng chí Mai Bảo - người giáo dân tình nguyện chèo thuyền đưa bộ đội ra Đảo Sơn Dương.



Gần 40 năm qua, không 1 đồng lương, không tiền phụ cấp, ấy vậy mà ông Mai Bảo - ở thôn Đông Yên –xã Kỳ Lợi vẫn lặng lẽ miệt mài đều đặn chèo thuyền chở gạo, chở bộ đội ra vào đảo Sơn Dương bất chấp những ngày sóng to gió lớn những chuyến đi đầy mạo hiểm, sự miệt mài hy sinh thầm lặng của ông đã khiến bộ đội đảo Sơn Dương kính phục luôn gọi ông là “bố Bảo”.


Người giáo dân tình nguyện chèo thuyền đưa bộ đội ra Đảo Sơn Dương.


 Sẽ không có một lời hoa mỹ lý giải về kỳ tích chèo đò của mình. Ông chỉ nói đó là thấm nhuần đạo lý “Thương người như thể thương thân”. Dường như ông coi đó là bổn phận, là trách nhiệm thiêng liêng của mình. Chính vì vậy, khi được hỏi; Nếu lúc này lại có người ngoài Đảo gặp nguy cấp gọi đò. Ông khẳng định; Chắc chắn chèo. Câu hỏi đó là phản xạ quen thuộc của 1 con người đã gần 40 năm miệt mài thầm lặng không quản gian nguy chèo đò vượt biển giúp người. Tâm sự với chúng tôi, Ông Mai Bảo –thôn Đông Yên –xã Kỳ Lợi cho biết; “Tôi nghĩ rằng các chiến sỹ đóng quân trên đảo Sơn Dương cũng như những người con của mình. Thấy các chiến sỹ khó khăn, tôi không thể nào đứng nhìn. Xuất phát từ tình thương yêu, dù khó khăn, gian khổ bản thân tôi vẫn tự nguyện chở bộ đội ra vào đảo trong những năm tháng còn khó khăn….”
 Không chỉ chở bộ đội ra đảo và tiếp tế lương thực cho cán bộ  chiến sỹ trên đảo Sơn Dương. Ngôi nhà của vợ chồng ông còn là nơi tiếp  đón, ăn nghỉ  khi các anh về phép hay có công việc ở đất liền. Vợ ông, bà Hoàng Thị Át- một người phụ nữ nhân hậu, tất bật lo việc bếp núc, giặt giũ mỗi khi có người lính từ đảo về. Điều gì khiến ông Bảo lao vào chổ nguy hiểm mà không hề so đo tính toán. Có lẽ động lực ấy, chỉ xuất phát từ 1 trái tim nhân hậu biết yêu thương con người đối với những gian nan vất vả thiếu thốn mà những người lính đảo luôn phải gánh chịu. Từ năm 1982 đến nay, ông Bảo không còn chèo thuyền bằng tay nữa, con thuyền đã được nâng cấp để phục vụ công việc tiếp tế thuận lợi hơn. Đây cùng là chiếc thuyền thứ 6 kể từ khi ông bắt đầu chở hàng và bộ đội ra đảo Sơn Dương.


Ông Mai Bảo (ngoài cùng bên trái) cùng các chiến sĩ trên đảo Sơn Dương

  Điều đáng nói, ông Bảo cũng từng là 1 người lính, ngần ấy năm, gia nhập quân đội đủ để ông hiểu và cảm nhận nổi gian truân, vất vả của người lính. Bởi vậy, sau khi xuất ngũ trở về làng quê ven biển cùng với công việc mưu sinh của 1 ngư dân miền biển. Ông Bảo lại lao vào trận chiến mới không kém phần gay go ác liệt. Tình nguyện chèo thuyền chở bộ đội và tiếp tế lương thực cho cán bộ chiến sỹ đảo Sơn Dương. Trong ký ức của mình, ông Bảo vẫn không bao giờ quên được những hình ảnh, những cánh tay gầy guộc giơ lên vẫy chào và cả những nụ cười đầy nước mắt lã đi vì đói sau nhiều ngày thuyền không tiếp cận được đảo do biển động. Vào thời điểm đó, mọi thông tin liên lạc giữa đảo và đất liền chỉ thông qua ngư dân đánh cá nhưng vì biển động chẳng ai dám ra khơi và cả không ít  lần thuyền ông cập đảo vẫn phải quay trở lại bởi ông biết chắc chắn nếu bị sóng đánh chìm thì tính mạng các chiến sỹ khó bảo toàn. Với những đóng góp to lớn của ông đối với những người lính đảo, ông đã vinh dự được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen của TW và của tỉnh Hà Tĩnh. Trao đổi với chúng tôi, thượng tá Lê Văn Hân-  Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện Kỳ Anh nói; “ Chúng tôi không thể kể hết những đóng góp hy sinh thầm lặng của ông đối với cán bộ chiến sỹ trên đảo Sơn Dương. Giờ đây mỗi khi nhắc đến tên ông, anh em chiến sỹ ở ban chỉ huy quân sự huyện luôn xem ông như là 1 người bố, người cha đã từng nuôi sống cán bộ, chiến sỹ công tác trên đảo. Mặc dù, trong những năm gần đây, ông không còn khỏe nữa nhưng cán bộ chiến sỹ ban chỉ huy quân sự huyện vẫn thường xuyên quan tâm, chăm lo cho ông, động viên ông vượt qua khó khăn bệnh tật để vươn lên trong cuộc sống”.




 Trời đã về chiều, ngôi trên bãi biển nhìn ra đảo Sơn Dương hình như trong chuyến đi vừa rồi làm ông nhớ lại những kỷ niệm trong suốt 40 năm lênh đênh chèo thuyền cho không biết bao nhiêu cán bộ chiến sỹ đã từng công tác  đóng quân trên đảo Sơn Dương./.


Mạnh Hải- Phạm Tuấn- Mai Dung
Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Đôi dép cụt mòn của mẹ - Nguyễn Thành Công


ĐÔI DÉP CỤT MÒN CỦA MẸ

Tôi xin được, kể về câu chuyện
 Mang trong lòng xao xuyến từ lâu
 Nay tôi trích dẫn ít câu
 Mong sao người đọc hiểu sâu thế nào.
 Một vùng nọ, đồng bào xa thẳm
 Gia đình nghèo có đấng con trai
 Tuổi tầm hâm ba hâm tư
 Được vô đại học trổ tài thông tin.
 Cha với mẹ, quặn mình bươn chải


Để cho con, trang trải học hành
Ở nơi phố xá thị thành
 Con trai ngoan ngoãn đã nhanh vào đời.
 Mấy năm trước, đang thời thưa thớt
 Ít xin tiền, chắt lót tiêu pha
 Sau rồi bước tới năm ba
 Bao nhiêu tiền của mẹ cha sạch sành.
Ở ngoài phố, tung hoành bầu bạn
 Tìm bao điều tệ nạn thú vui
 Rồi quen gái gú dập vùi
 Shop ping mua sắm húi hùi vọt theo.
 Bao tiền bạc, hộ nghèo vay vốn
 Cha mẹ già, chẳng thốn cái chi
 Cho con được đủ những gì
 Con cần là gửi chẳng khi phàn nàn.
 Bao thấm thoắt, cơ hàn đã thoát
 Con ra trường, hết ngạt u mê
 Sau này xin được ngành nghề
Rồi từ ngày đó không hề thăm quê.
 Nhắn với bạn, gần về thăm lại
 Với một người con gái thành đô
 Nói rằng sắm sửa ít đồ
 Để con xin cưới ô tô rước nàng.
 Vừa về đến, ngỡ ngàng anh thấy
 Cha mẹ gầy, bùn vẫy cả thân
 Mẹ thì dép nát một phần
 Cha thì rách rưới tàn bần lạ thay.
 Anh lẩm bẩm, mặt mày cau cáu
 Nói như rằng, không giấu bạn con
 Với còn ĐÔI DÉP CỤT MÒN


 Không giữ sỷ diện mà còn đem ra.
 Rơi nước mắt, cha già nói khẽ
Bao của tiền, sạch sẽ nuôi con
 Giờ còn thân xác gầy mòn
 Con ơi đừng có trách hờn mẹ cha..!
Đau lòng quá cúi lạy rên là 
 Cha mẹ à con trai sai nhiều lắm.
 Kể từ đấy chàng trai thay đổi
 Biết dập vùi biết mải miết mưu sinh
Để mong thay đổi bóng hình
 Hom gầy , tàn tạ mẹ cha nuôi mình

Nguyễn Thành Công
Người Kỳ Anh

Read More
Unknown

Về nhà - Thơ Cù Lú (mần chù nhựng Vù Lan xa nhà)






VỀ NHÀ
Về nhà mình. Về lại nơi đã sinh ra mình.
Về nơi mẹ đã suýt sinh mình bên bậu cửa
Nơi em mình nhiều lần khóc đêm vì đói sữa
Nơi chị mình từng thức đêm làm rơm đạp lúa
Nơi giọt mồ hôi làm xanh bụi chuối luống khoai mà thủa bé mình ăn trừ bữa.
Bà mình ăn trầu nhổ đỏ cả một vùng sân đất loang lỗ
Những mảng màu ký ức sẽ lãng quên


Về nhà mình. Về lại nơi mình bỏ đi vì đã lớn lên.
Ăn một củ khoai chấm với muối vừng trong ngày rét
Uống một ngụm nước chè mẹ đang vần nóng bên bếp
Chợt thấy mẹ đã bạc đầu
Khoai có bùi nước có ngon đến mấy cũng không thể nào
Không thể nào làm tóc mẹ trở xanh

Về nhà mình. Đến nắm đất dưới gốc chuối ngoài vườn cũng thấy thân quen
Những vườn cà, những giàn mướp xanh quện lên ngày tháng đói
Dưới những cây mít, cây mùng (mồng) tơi, cây ổi
Đứng tần ngần cả buổi mà lòng muốn khóc lên- khóc cho những điều khó nói
Những ký ức, những đoạn đời đã trôi qua rất vội
Đứng một mình rồi nắm-với những thân quen



Về nhà mình. Đứng cúi đầu trước bàn thờ bậc sinh thành - tổ tiên
Có giọt máu có khúc ruột mình ở đó
Nhưng chỉ còn là niềm tiếc thương là nghìn vạn nỗi nhớ
Những yêu dấu đã về trời…

Về nhà mình. Lăn ra ngủ một giấc bình yên lắm ai ơi
Đến cả tiếng thở trong đêm cũng tưởng chừng như tiếng ai đang gõ cửa
Đưa mình về với ngày xưa thủa nhỏ
Thủa nghèo đói - thủa chăn trâu cắt cỏ mà vui

Về nhà mình. Cũng chỉ là về để nghỉ ngơi
Rồi mốt mai lại ra đi như những hành khách vội
Ra đi như quê hương chỉ là nhà ga cho từng lần dừng chân vì mệt mỏi
Cho tháng năm chưa kịp một lần sám hối
“nhanh đến thế kia mà”

Thời gian chẳng trừ một ai trong chúng ta
Đến cả Quê Hương cũng già đi biết mấy…
___
Thơ Cù Lú ( #cùlú )- (mần chù nhựng Vù Lan xa nhà)
Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Đất nghèo nuôi chữ [viết về trường cũ Kỳ Lâm - Võ Tú]



ĐẤT NGHÈO NUÔI CHỮ
( Viết về trường cũ Kỳ Lâm)



Bao năm ai ngược rồi xuôi
Đi tìm chân lý mộng nuôi quê nghèo
Đường dài ghềnh đá cheo leo
Mong tìm nét chữ để deo nên mầm.
Ai về đất cước Sơn - Lâm
Mà nghe đất chuyển thì thầm bên tai

Tiếng ai hôm sớm giảng bài
Phương trình.... đồ thị... khoan thai Truyện Kiều
Thầy cô tận tụy sớm chiều
Trò ngoan... đức- trí... chỉ yêu học hành
Ngày xưa đi xuống thị thành
Mà nay phố thị dành nhau lên mình


Vùng đất yêu chữ anh linh
Ngôi trường vững mạnh vươn mình trong sương
Mười lăm năm... một chặng đường
Đất nghèo nuôi chữ quê hương chúng mình!

VÕ TÚ.18.11.2015
Người Kỳ Anh




Read More
Unknown

Buông câu Mực nháy trên biển Vũng Áng (Kỳ Anh - Hà Tĩnh)



(Người Kỳ Anh) Mấy năm gần đây, Vũng Áng không chỉ nổi tiếng bởi hàng loạt công trình, dự án tầm cỡ quốc gia và khu vực đang được triển khai...


Hoàng hôn dần buông, ánh rẽ quạt chiếu hắt lên phía chân trời những tia nắng hồng in bóng xuống mặt biển trong ráng chiều nhạt dần. Từ cảng biển Vũng Áng, đoàn thuyền câu mực chòng chành nhổ neo, nhẹ nhàng rẽ nước ra khơi. Ôm theo túi đồ nghề lỉnh kỉnh, tôi theo chân ông chủ thuyền tốt tính Chu Văn Ngân - một lão ngư dạn dày sóng nước ở thôn Hải Phong, xã Kỳ Lợi - nhập vào đoàn quân câu mực.

Gió biển buổi hoàng hôn mơn man con sóng nhỏ, con thuyền trườn mình lướt sóng bỏ lại bến bờ, lao nhanh về phía biển khơi. Chừng ba mươi phút sau, lão ngư thả neo, châm đèn măng-sông, buông câu.., hoà cùng hàng trăm chiếc thuyền câu mực nhấp nháy ánh đèn kết thành cánh cung hoa đăng khổng lồ ôm lấy bờ bãi nhấp nhô ánh điện phía xa xa. Cách chỗ chúng tôi vài chục hải lý, hướng đông, hàng trăm ngọn đèn nhấp nháy như một thành phố trên mặt biển. Đó là những chiếc thuyền lớn đánh bắt xa bờ.

“Khu vực này cách bờ non ba cây số, là khoảng cách khá xa so với dân đi câu mực nháy. Mùa câu mực của ngư dân thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8 hằng năm, nhưng chỉ có vài tháng giữa mùa hè mực “áp bờ”, khi ấy chỉ cần buông câu ngay cảng biển Vũng Áng đã có mực cắn mồi” – mắt không rời khỏi dãy phao câu, ông Ngân bắt đầu câu chuyện.

Buông câu mực nháy trên biển Vũng Áng

Với thâm niên gần 20 năm lăn lộn giữa sóng gió biển khơi, ông Ngân hiểu biển Vũng Áng như một nhà hải dương học. Ông cho biết, Vũng Áng là cảng nước sâu được bao bọc bởi những dãy núi dài, biển ở đây ăn sâu vào đất liền, ít có sóng to, độ mặn cao nên loài mực thường vào sát bờ tránh sóng, sinh sản. Từ ngày tóc còn để chỏm, ông Ngân vẫn thường theo cụ thân sinh đi câu mực trên những chiếc thuyền nan.

“Chim gió cá nước, con mực con cá thường lên ăn theo con nước, ngày trăng. Thời điểm trăng gần lên hoặc trăng sắp lặn, mực lên ăn nhiều, buông câu vào thời điểm đó là thượng sách. Ngày trước, mực câu được ngư dân cho vào khoang thuyền, chỉ trong chốc lát là chết ểnh bụng. Dăm năm nay, nhất là từ ngày Vũng Áng được chọn xây dựng khu công nghiệp lớn, du khách về với cảng biển ngày một đông, kéo theo các dịch vụ ăn theo có đà phát triển, đặc biệt là đặc sản “mực nháy” ở đây ngày càng nức lòng du khách gần xa, nghề câu mực nháy cũng ra đời từ đó và ngày càng ăn nên làm ra…” – ông Ngân cho biết.


Các loại hải sản được nuôi sống trong lồng lưới dưới các bè nổi.

Ngọn đèn măng sông sáng bừng lên, soi tỏ một vùng rộng lớn. Tôi ngồi bên mạn thuyền, làm động tác giật dây, thu cước. Dưới làn nước trong xanh, chợt xuất hiện đàn mực ống gần chục con. Loài mực sống quanh quẩn ở vùng biển Vũng Áng nhiều lần thoát khỏi sự săn đuổi của cư dân sông nước, cứ lởn vởn dưới ánh đèn. Dãy phao câu được cha con ông Ngân chăng kín xung quanh chiếc thuyền chợt nhấp nháy. Một tay nâng nhẹ dây câu, một tay khéo léo luồn chiếc vợt xuống nước ôm trọn con mồi đang dính chặt hai chú mực, ông Ngân kéo chiếc vợt lên khỏi mặt nước. Dưới ánh đèn măng-sông, hai chú mực giãy nhẹ, trên mình lấp lánh những đốm sáng như ánh lân tinh đa sắc. Hai chú mực nhanh chóng được thả vào chiếc lồng làm bằng lưới treo sẵn phía sau thuyền.

“Nhiều người gọi là “mực nhảy” cốt hấp dẫn người nghe, thực ra, mực bắt lên bờ sẽ chết trong phút chốc, làm chi nhảy được. Phải gọi là “mực nháy” mới chính xác, bởi khi mới bắt lên, hoặc vừa chết, tức mực còn tươi, mình con mực trong suốt, làn da lúc nào cũng nhấp nháy các đốm lân tinh. Gọi như thế cũng là để phân biệt với mực ươn, mực đã chết lâu, sẽ trắng bợt và không có những ánh lân tinh nhấp nháy. Để có “mực nháy” phục vụ du khách ở cảng biển Vũng Áng, ngư dân sáng tạo ra những lồng nuôi kéo theo thuyền thả xuống biển như thế này để duy trì sự sống cho mực…” – ông Ngân giải thích về thứ đặc sản nổi tiếng của Vũng Áng.

Câu mực không cần lưỡi câu và con mồi giống như đi câu các loài hải sản khác. Bộ đồ câu mực của cha con ông Ngân rất đơn giản, gồm một khuôn ròng rọc bằng sợi dây cước dài chừng 20m, cứ 2,5m gắn một “con mồi”, ngư dân thường gọi là thẻ câu. Thẻ làm bằng các mẩu vải xanh-đỏ-tím-vàng nhiều màu để dễ bắt ánh đèn, được kết thành hình con tôm hay con cào cào. Bị kích thích bởi chiếc thẻ câu lấp lánh sắc màu dưới ánh đèn măng- sông, mực sẽ bám vào, ôm chặt lấy thẻ câu như ôm một con mồi. Lúc đó, người đánh thẻ một tay giật thẻ, một tay cầm vợt sẵn sàng xúc những chú mực theo mồi ngoi lên sát mặt nước thả vào chiếc lồng lúc nào cũng mở nắp sẵn sàng phía đuôi thuyền.


“Từ ngày dịch vụ “mực nháy” Vũng Áng nở rộ, dân biển trong vùng nhà nhà sắm thuyền câu mực. Thu nhập từ nghề câu mực nháy khó có nghề nào sánh bằng. Mỗi cân mực ướp đá đánh bắt xa bờ hiện có giá bán từ 70-80 ngàn đồng, trong khi mỗi cân mực nháy (khoảng 25 con) giá bán từ 250-300 ngàn đồng. Nếu gặp hôm thời tiết đẹp, mỗi thuyền câu 2 người câu được 2,5-3kg mực nháy, gặp buổi xấu trời cũng được vài ba chục con, mỗi con 10 ngàn, đếm mực lấy tiền” – ông Ngân tỏ ra thú vị vì nghề câu mực gia truyền của mình ngày càng có đất làm ăn.

Mãi dõi theo những chú mực vờn mồi và cánh tay lão ngư điêu luyện như một nghệ sĩ xiếc biểu diễn mỗi khi đưa vợt vớt những chú mực đang phun mực đen sì lên khỏi mặt nước, tôi không nghĩ mình đã có gần 5 giờ đồng hồ dập dềnh giữa sóng nước biển khơi. Đành tiếc nuối chia tay cha con lão ngư, tôi theo chiếc thuyền của một thương lái vừa ghé mạn thuyền ông Ngân “gom mực”, trở về cảng biển Vũng Áng.

Mực nháy - đặc sản của cảng biển Vũng Áng!

Chủ của chiếc thuyền buôn là anh Võ Văn Đàn - chủ bè mực nháy Đàn Tuyết ở cảng Vũng Áng. Câu chuyện của tôi với anh Đàn lại xoay quanh con mực nháy. Theo anh Đàn, mực nháy có nhiều cách chế biến. Mực luộc kẹp lá lốt chấm với mù tạt hoặc nước mắm gừng, nhắm với rượu đế là cách ăn thông dụng nhất. Mực nướng cầu kỳ hơn nhưng cũng khoái khẩu hơn. Con mực tươi rói nướng lên vừa thơm, vừa giòn vừa ngọt chấm với tương ớt cùng muối tiêu pha chanh chẳng có món gì bằng. Còn món mực tái chỉ có dân nhậu sành ăn hay dùng. Con mực sống vừa bắt lên khỏi mặt nước, bỏ hết nội tạng, thái miếng, vắt chanh vào ướp một lúc. Sau đó, gắp miếng mực tươi cong chấm vào chén mù tạt cay xực mùi hạt cải... rồi nhấp ngụm rượu đế cay nồng thực quản, bạn sẽ cảm thấy tiêu tan tất cả những bộn bề của cuộc sống thường nhật, chỉ còn ta với biển với trời.

Anh Đàn cho biết, thường vào chính mùa mực, dân câu được nhiều, đem vào bán tận bè. Còn mùa này, mực câu được ít, các chủ bè phải ra tận nơi gom mực mà vẫn thường xuyên bị “cháy hàng” vì nhu cầu thực khách quá lớn. Đặc biệt thời gian gần đây, Công ty vận tải hành khách Hà Tĩnh mở tuyến xe buýt Hà Tĩnh – Vũng Áng nên du khách đến với cảng biển ngày một đông. Trung bình mỗi ngày, chiếc bè nổi của anh Đàn tiêu thụ 20-30kg mực nháy. Dịp nghỉ lễ 30-4 vừa rồi, mực nháy không có để bán, bè của anh chỉ phục vụ du khách các loại hải sản nhốt lồng như tôm hùm, cua biển, cá mú, cá bớp.., mà doanh thu mỗi ngày vẫn đạt trên 30 triệu đồng.

Thuyền cập cảng Vũng Áng. Ngoài khơi xa, hàng trăm chiếc thuyền vẫn chong đèn, thắp sáng mặt biển như một thành phố kéo dài. Những ngọn đèn đêm trên những chiếc bè nổi giăng kín cảng vẫn thao thức, rực sáng một vùng. Những thực khách cuối ngày vẫn tụm năm tụm bảy trên dãy bè nổi, xì xèo nướng mực trên những bếp than hồng. Dường như họ chưa thoả cơn say bởi nét văn hoá ẩm thực đặc sắc giữa mênh mang sóng biển nằm ngay phía dưới khu đại công nghiệp đang từng ngày mọc lên những ống khói chọc trời.

Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Phương ngữ Kỳ Anh (từ điển tiếng Nghệ - Tĩnh)



Thỉnh thoảng mình hay viết những câu chuyện của địa phương và dùng phương ngữ cho hợp với ngữ cảnh câu chuyện. các bạn mình đọc cũng "nỏ hiểu chi trơn"...


Con trâu thì gọi “con tru”
Con dâu thì gọi “con du” trong nhà
“Mấn” là “váy”, “ngái” là “xa”
“Đi mô?” để hỏi ai là “đi đâu? ”
“Nác su” ý nói “nước sâu”
“Trấy bù” để gọi “quả bầu” đấy nha
“Gác bếp” thì gọi là “tra”
“Lông cơn” thực chất đó là “trồng cây”
“Ra sân” thì nói “ra cươi”
“Đi nhởi” ý nói “đi chơi” ấy mà
“Chúng tao” thì nói là “choa”
“Các bạn”, thân mật gọi là “bọn bay”
“Tê” là “kia”, “ni” là “này”
“Mi” “mần” ý nói là “mày” “làm” thôi
“Chộ” là “thấy”, “nhác” là “lười”
“Mắm tôm” cứ gọi “ruốc bôi” đúng liền
“Đọi” là “bát”, ”nôốc” là “thuyền”
“Khủy chân” đích thị có tên “lặc lè”
“Đàng” là “đường”, “đấy” là “tè”
“Thế thôi” thì nói “rứa hè” là xong
“Rừng” là “rú”,“rào” là “sông”
“Ngá khu” tức thị “ngứa mông” thật rồi
“Mơ” là “mớ”, “thúi” là “hôi”
“Nỏ nhởi” ý nói “không chơi” đó mà
“Tê” là “kia, “tề” là “kìa”
“Cái môi” tên gọi “cái thìa” đó em
“Đánh nhau” – “đập chắc” nhớ liền
“Ra răng” là muốn hỏi em “thế nào”
“Ả” là “chị”, “tau” là “tao”
“Rứa” là “thế”, “răng” là “sao” đó mà
“Bổ” là “ngã”, “mả” là “mồ”
“Lọi cẳng” để nói đó là “duỗi chân”
Vải “đen” ắt hẳn vải “thâm”
”Trụt quỳn” ý nói “tụt quần” thế thôi
“Dốc” là “trôộc”, “đôộng” là “đồi”
“Mui” là để chỉ cái “môi” trước mồm
“Đầu” là “trôốc”, “hun” là “hôn”
“Ló” chưa hết là “Lúa” còn đấy em
“Ngượng” là “rầy” “thích” là “sèm”
Ai hỏi đến “lả” thì châm “lửa” liền
“Nỏ” là “không” nhé đừng quên
“Lá trù” chính xác là tên “lá trầu”
“Mắc” là “bận”, “mô” là “đâu”
“Ăn nể” , “ăn vã” như nhau cả mà
Có người gọi “bọ” là “cha”
“Nương” là “vườn”, “rẫy” gọi là “nương” thôi
“Bù rợ” “bí đỏ” đúng rồi
“Nước chè” quê bạn, quê tôi “nác chè”
“Nướng” là phải “náng” đó nghe
Gọi mang lọ “mói” thì bê “muối” liền
Trốc cúi” là “đầu gối” chân
Gọi “đài” múc nước phải cầm “gầu” ngay
“Chủi” là cái “chổi” đây này
Nói “rờ” thì cứ đưa tay mà “sờ”
“Lúc này” tạm nói là “dừ”
“Luộc kỹ gốc” nhé, “Loọc nhừ côộc” nha,
“Con ga” để chỉ “con gà”
“Con bê” choa nói đó là “con me”
“Con suối” cứ gọi là “khe”
”Châu chấu” ngoài đó, ở quê “cào cào”
“Hồ” nước được gọi là “bàu”
“Cá quả” cứ gọi “cá tràu” không sai
“Con người” thì nói “Con ngài”
”Cù cu” tên gọi của loài “bồ câu”
“tối” nói “túi”, “túi” nói “bâu”
“Con sâu” có chỗ gọi “trâu” thật mà
“Hổ bắt” thì nói “khái tha”
“Muỗi”, “giòi” thì gọi đó là “mọi”, “troi”
“Con ruồi” thì nói “Con ròi”
Bắt “tôi” “Nhúng” đít thì “tui” “trụng” quần
“Con giun” phải nói “Con trùn”
“Với chắc” có nghĩa là cùng “với nhau”
“Lộ mô” có nghĩa “chỗ nào”
Nói “vo trôốc” là “gội đầu” đó em
“Gạo” thì gọi “gấu” đừng quên
Ai nói đến “trự” nhớ liền “chữ” ngay
”Chạc” là để chỉ cái “dây”
Nói đi “đâm” gạo hiểu ngay “giã” rồi
Cả anh, em mẹ tới chơi
Đều chào là “cụ” thế thôi em ờ
“Sạu” thì phải hiểu là “ngô”
”O” là bác gái và “cô” đó mà
“Mẹ chồng” vẫn gọi “mụ gia”
“Ràn tru” phải hiểu đó là “chuồng trâu”
“Ròi bu” ý nói “ruồi bâu”
Hỏi nơi “rửa bát” là đâu “lộ chồ”
Gọi “vợ” là “gấy”nhớ cho
Nói “Nhôông” ắt hẳn chính là “chồng” thôi
“Dao khoắm” là “rạ” đúng rồi
Bảo đi lấy “toóc” thì lôi “rạ” về
“Ruộng” là gọi “roọng” đó nghe
“Anh nha” cứ nói “eng hè” là xong
“Suôn” là “thẳng”, “ngoẹo” là “cong”
“Nỏ mần răng cả” là “không việc gì”
“Gõ đầu” là “trọi trốc” mi
“Kệ tau” ý nói làm gì “mặc tôi”
“Trúp vả” để chỉ cái “đùi”
“Ả nậy” – “chị lớn” biết rồi chứ em,
“Ngong” là “ nhìn”, “coi” là “xem”
“Mệ va” – “chị ấy” mong em chớ cười
“Lớn” thì nói “nậy” thế thôi
“Lõi” ngô, lõi mít nói “cồi” đừng lo
“Cây cọ” choa nói “cơn tro”
Gọi “tắn”, gọi “tít” “rắn” bò “rết” ra
“Mạo” là cái “mũ” đó nha
Trong đó từ “rạc” nghĩa là “xác xơ”
“Anh” là “eng”, “cô” là “O”
“Mun” trong bếp củi là “tro bếp” mà…
“Hãi” ma tức là “sợ” ma
Nói ai “khun nậy” chính là “lớn khôn”
“Cái ghế” thì gọi “cấy đòn”
“Ăn vụng” – “ăn phúng” là con một nhà
“Bà già” thì gọi “mụ tra”
Mẹ kêu lấy “đúa” cầm ra “rổ” này
“Tâm thần” thì gọi “ra ngây”
“Nồi đất” thì lại gọi ngay “trách bù”


Thử làm một bài kiểm tra nhỏ về khả năng dịch chuyển ngữ từ một đề thi Ngữ Văn lớp 7 (bạn trả lời dưới phần bình luận):
  • Hãy viết hai câu thơ sau sang tiếng phổ thông:

“Mô rú mô ri mô nỏ chộ
Mô rào mô bể chộ mô mồ”.

Trần Xuân Tiến (tổng hợp)
Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

[Chợ Kỳ Anh - Thơ] Nhớ mại tận tra mà kể cho con cháu



(NguoiKyAnh) Còn lại gì khi đã xa nhau rồi, nơi em đến chẳng còn.... Chợ. Thưa các bạn ngày 26/12/2015 vì sự tồn vong của chợ Kỳ Anh mới, cũng là nằm trong kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Kỳ Anh, chính quyền đã tiến hành phá chợ cũ (Xem toàn cảnh câu chuyện tại đây). Nhưng có điều gì đó không ổn! Nhìn cảnh chợ tan hoang, con người mưu sinh tại đó mịt mù một tương lai, những người có lương tri không khỏi chạnh lòng nghĩ về con người như nhìn thảm cảnh đổ nát ở Đông Yên ngày ấy...



Gọi về hỏi “chợ à răng rồi mẹ”
“Mất hết rồi mất hết con ơi
Rồi Tết ni lấy chợ mô mà đi
Tết ni lấy cấy chi mà bán
Rồi Tết ni răng vui được nựa
Rồi sau ni răng sống được con ơi”
Chợ Kỳ Anh gắn với tuổi thơ tôi
Gắn cái cảnh trưa đưa cơm cho mẹ
Gắn cái tình mấy tiểu thương còm cõi
Gắn cả cuộc đời lam lũ mẹ tôi
Nhưng
Họ phá rồi, họ phá tuổi thơ tôi
Phá luôn cả cái nghề của mẹ
Chợ bây giờ hoang tàn đổ nát
Ai nhìn vào mà nước mắt không rơi
Kỳ Anh ơi dạo ni răng rứa??
Hết giáo viên giờ đến chợ đến trường
Kêu ai thấu hỏi ai hay ai biết
Ai đứng ra đòi công lý cho dân
Nước mắt dân rơi Bác trên trời Bác chộ
Mà Bác đi rồi thử hỏi còn ai?
Làm cái chi cũng phải nghĩ cho dân
Tổn hại dân phải tránh đi đừng chạm
Nhưng Bác ơi những lời Bác dặn 
 Âu chỉ còn trong sách vở mà thôi
Ôi nhớ làm sao
Nhớ làm sao quê nghèo của tuổi thơ
Ừ thì nghèo cái tiền cái bạc 
Nhưng cái tình thì nỏ mô bằng được 
Chứ như dừ nghĩ đến mà thương
Ai cho tôi theo về với ngày xưa
Cho tôi theo về với lòng quê chân chất
Cái mộc mạc như cái đất người ơi


Thanh Hoài viết cho một người bạn


Một bài thơ khác cũng nhận được nhiều lượt chia sẻ và đồng cảm từ bạn đọc.



Tôi thấy vui khi đông người tụ tập
Lòng đậm buồn khi tan nát tuổi thơ..
Bao năm gắn bó kiếm đồng tiền..
Nhắm mắt gồng mình mất như tiên
Phải chăng đồng tiền làm mờ mắt
Để rồi dân oán ắt không sai
Ngai vàng ở trên có ngó xuống
Dân mình cuống cuồng chạy lo thân
Hờn giận từ gốc làm chi được
Trái ngược ý dân thân chẳng yên
Nhưng cũng chỉ nghe từ một phía
Biết đâu Tía tổng bắt lệnh về
Đổi sang chợ mới đuề huề hơn xưa
Thưa là truyền thống từ lâu
bán buôn con cái ấu thơ tràn đầy 
Giờ đây xơ xác nằm đây
Dẫm chân nhắm mắt ước gì là mơ...
Xa cậu rồi những tháng ngày tết đến...
Buôn vui bán đỏ dân ngày càng đông..
Giờ thì xa tít đằng đông
Đi xuôi về ngược khó khăn muôn bề
Xin mạn phép gửi đến..
Tuổi thơ đầy niềm vui..
Nhớ mại tận tra mà kể cho con cháu


Trần Anh Tú



Read More