Unknown

Tập thơ "Thức với Đèo Ngang" cảm hứng Kỳ Anh của thầy Nguyễn Tiến Chưởng.




(Người Kỳ Anh) Thầy giáo, tác giả Nguyễn Tiến Chưởng (nguyên hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Huệ) vừa cho ra mắt tập thơ" Thức với Đèo Ngang" do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.




BÊN BÓNG HOÀNH SƠN

Một dải non xanh sóng vỗ bờ
Ân tình sâu nặng tự ngàn xưa
Bể dâu bao độ hồn neo lại
Bên bóng Hoành Sơn ngân tiếng thơ.

TIẾNG CUỐC ĐÈO NGANG

Lạ kỳ tiếng Cuốc Đèo Ngang
Bao năm kêu dọc thời gian với người.
Đìu hiu cả những khoảng đồi
Tiếng Cuốc kêu cứ bồi hồi con tim
Khát khao biển cũng đi tìm
Miên man con sóng chẳng im chân đèo
Trời trong veo, biển trong veo
Hoa sim tím ngắt giữa chiều hoàng hôn
Tiếng Cuốc vách đá bồn chồn
Người đi lòng cứ vọng hồn nước non.
                                       1998
  

TỰ LẮNG TIM MÌNH

Chưa ăn một quả sim Đèo Ngang
Chưa uống một ngụm nước trong khe Bàn Thạch
Thế thì làm sao mà hiểu hết
Cái ngọt ngào của đỉnh Đèo Ngang.

Thôi thì cứ lên Đèo để hưởng cái mênh mang
Của biển cả và nắng vàng khoáng đạt
Cứ lên Đèo để nghe gió hát
Nhận ra cái hơi ấm dưới chân mình của đất ông cha.

Cứ lên Đèo để ta hiểu lòng ta
Bậc hậu sinh ta nhận nhiều quá thể
Một ngọn cỏ Đèo Ngang xanh máu bao thế hệ
Ta tự lắng tim mình giữa thủy mặc Đèo Ngang


VỚI NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

Anh qua đây mấy lần
Tôi không hề được biết?
Anh viết thơ “Đèo Ngang”
Làm lòng tôi thổn thức.

Nhớ một thời ác liệt
Bom thù xé nát Đèo
Xe âm thầm vượt dốc
Phía chân đèo sóng reo

Đèo bây giờ vẫn vậy
Tiếng Đa Đa vọng chiều
Đường hầm xuyên ruột núi
Thơ Anh, người mang theo.

“Đèo... dọc”(*) người nhớ nhiều
Mùa xuân mai vàng nở.
Máu nhuộm đỏ lưng Đèo
Dễ mấy ai còn còn nhớ!
                                        Đèo Ngang 6 – 2007
(*) : Ý thơ Phạm Tiến Duật

  
HỎI CÂY, HỎI ĐÁ

Núi Hoành Sơn “Nhất đái”(*)
Ông cha đã dặn rồi
Đừng làm chi khờ dại
Hoành Sơn Quan cao vời.

Non xanh và biển biếc
Máu thịt biết bao đời
Hỏi cây, hỏi đá núi
Sẽ biết tình đầy vơi.

Đừng nghĩ sông thì chảy
Đừng nghĩ sóng thì reo
Chảy, reo gì cũng phải
Lắng tiếng Cuốc lưng đèo.
                     Tháng 6 – 2014

(*) Ý câu Sấm của Nguyễn Bỉnh Khiêm


KỲ ANH QUÊ HƯƠNG

Không có Đèo Ngang chắc không có Kỳ Anh
Không Vũng Áng không có tàu vào cảng
Dòng sông Trí trong xanh thơ mộng
Mẹ nhân từ sáng mãi “Thập Kê minh”(*)

Bàn Độ ngàn đời sánh Tượng Lĩnh cao xanh
Câu ví dặm lung linh hồn xứ sở
Thơ Bà Huyện cho lòng ta rộng mở
Trấn Dinh Cầu linh địa vẫn uy nghiêm.

Người Kỳ Anh nhân hậu, bao dung
Chấp hết bão dông, kẻ thù man rợ
Quý thương nhau làm nên làng xã
Đất Anh hùng, lời Mẹ ấm vành nôi...

 Kỳ Anh hôm nay đã đổi thay rồi
Bình minh đến mỗi ngày thêm mới lạ
Tàu vào cảng tiếng còi vui rộn rã
 Hàng bốn phương về náo nức mọi đường quê.

Trên đỉnh đèo giọng ai hát say mê
 Khu công nghiệp tiếng búa dồn cọc móng
Ống khói cao vươn lên bao ước vọng
 Làng quê giờ đô thị hóa...niềm vui.

Đã hiện hình Thành phố cảng tương lai
Mùa xuân đến cỏ cây khoe lộc biếc
Tiềm năng dậy cùng người lên hạnh phúc
 Hoa mai vàng rực nắng ấm quê hương.
                                                              Kỳ Anh 2014

(*) “Kê Minh thập sách” của Thánh Mẫu Bích Châu.

Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Mùa quýt ngọt bên sông Rào Trổ (vùng thượng Kỳ Anh)




(Người Kỳ Anh) Những ngày cuối năm, chúng tôi có dịp ghé vào các vườn chuyên canh trồng cây quýt sáp, quýt tắc, quýt ngọt ở xã Kỳ Thượng, Kỳ Lâm… nằm hai bên bờ thượng nguồn sông Rào Trổ, thuộc huyện Kỳ Anh.




  • Bút ký của Nguyễn Ngọc Vượng

Quýt khốp vùng thượng Kỳ Anh - miền thương, nỗi nhớ

Dẫn chúng tôi dạo quanh trang trại quýt của mình ở khu vực động Nhà Hòi, ông Võ Văn Minh (52 tuổi, ở thôn Tân Tiến, xã Kỳ Thượng) phấn khởi: “Hàng chục năm về trước, khu vực này còn hoang vắng, nhà dân thưa thớt, đi lại khó khăn. Nhưng sau khi chúng tôi lên đây nhận đất, khai hoang, cải tạo trồng cây quýt sáp và quýt tắc; nhờ phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, đặc biệt có nguồn nước sông Rào Trổ kết hợp với chăm sóc đúng khoa học kỹ thuật nên cây quýt phát triển rất tốt, có chất lượng, sản lượng quả đều và nhiều. Cứ đến mùa thu hoạch là thương lái khắp nơi nườm nượp đổ về thu mua tại chỗ với giá cao. Và cũng nhờ có cây quýt, gia đình tôi từ chỗ hai bàn tay trắng, nay đã có của ăn của để dư dả...



Các xã vùng thượng huyện Kỳ Anh lâu nay được biết đến là vùng có nhiều lợi thế về đất đai, địa hình cho phát triển trồng trọt. Trong đó, cây Quýt bản địa và cây Quýt ngọt đã gắn bó bao đời nay với bà con nông dân nơi đây. Phát huy được lợi thế do thiên nhiên ưu đãi, bà con nơi đây đã không ngừng khai hoang, cải tạo đất đồi vốn hoang sơ để trồng trọt các loại cây trồng phù hợp với thổ nhưỡng. Chính vì bám vào nương rẫy, trang trại để phát triển cây trồng nên đời sống của bà con nơi đây đang khấm khá lên từng ngày bằng những trang trại chuyên canh trồng cây Quýt ngọt và cây Quýt bản địa.



Gắn bó với nghề trồng Quýt hơn 10 năm nay, đến thăm mô hình trồng Quýt ngọt và cây Quýt bản địa của hộ gia đình  bà  Nguyễn Thị Thanh ở thôn Bắc Hà- xã Kỳ Lâm. Với diện tích trang trại rộng hơn 2 ha, gia đình bà đã trồng hơn 2.000 gốc Quýt ngọt và Quýt bản địa. Bà cho biết; “ Nếu thời tiết thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi, bình quân mỗi năm có thể thu nhập hơn 70 triệu đồng”



Không chỉ ở Kỳ Lâm, cây Quýt  được trồng nhiều ở thôn Tân Tiến, Tiến Vịnh, Tiến Quang, Tiến Thượng, Bắc Tiến và Trung Tiến ở xã Kỳ Thượng. Có một đặc trưng là Quýt bản địa không thể sống độc lập mà bất di, bất dịch nó chỉ tồn tại và phát triển khi được sống chung với cả quần thể thực vật, nó luôn cần sự chở che của loài cây khác mà không cần quang hợp ánh sáng. Đặc biệt, khi được trồng xen kẽ với tranh, tre, khế, bưởi gió trầm là hết sức lý tưởng.



Thực tế cho thấy, Quýt là loại cây dễ trồng và hầu như khắp mọi nơi, Quýt còn được chưng trong mâm ngũ quả ngày Tết của nước ta hay được trồng trong chậu trang trí thể hiện sự phồn vinh thịnh vượng. Cây Quýt là một cây nhỏ, lá mọc so le, mép có răng cưa nhỏ mau, lá nhẵn thơm, vỏ cây cũng có mùi thơm. Hoa nhỏ màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá. Quả hình cầu, hai đầu dẹt, khi chín màu vàng cam đỏ, vỏ mọng, nhẵn bóng, hơi lồi lõm dễ bóc, trong có những múi xếp hình nan hoa bánh xe. Khi chín ăn ngọt ngon. Trong múi có chứa nhiều hạt. trên thực tế hiện nay khó có nhiều loại quýt như Quýt ngọt, Quýt chua, Quýt xốp….. nhưng tất cả các loại quýt vỏ quả đều dùng làm thuốc được.



Xã Kỳ Thượng có diện tích đất tự nhiên hơn 13.000ha, trong đó gần 100ha trồng cây quýt tắc, quýt sáp kết hợp trồng xen cây dó trầm, cam đường…
Hiện xã Kỳ Lâm có 3.644ha đất tự nhiên, trong đó hơn 30ha chuyên trồng quýt ngọt, bình quân mỗi năm thu nhập gần 2 tỷ đồng.
Quả quýt tắc, quýt sáp, quýt ngọt ở bên sông Rào Trổ có đặc điểm hình cầu, to hơn quả quýt thường, phần đuôi lõm sâu và thường chuyển sang màu đỏ nhạt trước khi chín đều, vỏ dày, múi quýt mọng và cong như hình lưỡi liềm có vị thơm, thanh, ngọt, bùi và mát. Đặc biệt, đối với quýt tắc, ngoài giá trị về kinh tế, giá trị dược liệu, còn có giá trị trong việc chế biến các món ăn dân dã truyền thống như vỏ quýt dùng nấu rươi, thịt, kho mắm, hầm cá đồng, nấu lẩu… Lá quýt cũng có thể đem pha chế nấu món dã cầy tuyệt vời.

Ảnh Nguyễn Ngọc Vượng, Mạnh Hải
Người Kỳ Anh 


Read More
Unknown

Chim Cu Kỳ, Cụp, Tôm hùm - đặc sản chỉ có ở biển Kỳ Xuân, Kỳ Anh



(Người Kỳ Anh) Ngoài vẻ đẹp hoang sơ, huyền ảo, tại bãi biển Kỳ Xuân sẵn có rất nhiều loại hải sản tươi sống “đặc sản” mà hiếm vùng biển nào được thiên nhiên ban tặng như vậy, nào là mực nháy, cụp, tôm hùm, cu kỳ, lệch, sò huyết, sò mai, sò điệp, ngọc nữ, vẹm, cá vược, cá mú… 

Con cụp, đặc sản biển thơm ngon chỉ có ở vùng biển xã Kỳ Xuân

Bãi biển ở Kỳ Xuân nằm dựa lưng vào các ngọn núi nguyên sinh  Tượng Lĩnh, núi Vàng, núi Sơn Tịnh… bên cạnh những ngôi làng chài thấp thoáng càng làm cho phong cảnh núi non - biển cả trở nên hấp dẫn, hữu tình đẹp như tranh. Với một bờ biển dài 13 km, đây là một trong những bãi biển vẫn còn  giữ nguyên vẻ đẹp hoang sơ, nước biển trong xanh với  bờ cát dài và trắng mịn. Cách mép nước vài chục mét, những hàng phi lao xanh ngút góp phần làm cho bãi biển Kỳ Xuân trở nên hấp dẫn đối với du khách mỗi khi đặt chân đến đây.



Kỳ Xuân là xã bãi ngang vùng ngoài thuộc huyện Kỳ Anh, gồm các thôn Quang Trung, Nguyễn Huệ, Xuân Phú, Trần Phú, Thắng Lợi… với dân số gần 7.000 người, ngư dân chỉ 30%, nông dân 70%. Các năm trước, do hạn hán và thiên tai mưa bão liên tiếp, nhiều người dân đã bỏ ruộng nương vào TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai, Đăk Lăk, Gia Lai… tìm việc làm, số khác đi xuất khẩu lao động, vì thế người dân nơi đây đang rất kỳ vọng du lịch biển Kỳ Xuân sớm được đầu tư xứng đáng để con em địa phương trở về quê hương phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo.


Tuy đang bước vào những ngày hè, nhưng bãi biển Kỳ Xuân không ồn áo, náo nhiệt, chật kín người như ở những nơi khác. Trong những năm gần đây, biển Kỳ Xuân đã thu hút khá đông một lượng du khách ở khắp mọi nơi đổ về,  góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho nhiều bà con ngư dân. Ngoài vẽ đẹp hoang sơ, biển Kỳ Xuân còn được du khách biết đến với những món ăn đặc sản mà ít còn vùng biển nào  được thiên nhiên ban tặng như đó là chim Cu Kỳ, Cụp, Tôm hùm, mực nháy, cá mú….  Là những đặc sản chỉ ở có biển Kỳ Xuân. Theo ước tính; Bình quân mỗi năm, xã Kỳ Xuân khai thác được 450 tấn thủy hải sản. Nhờ có bãi biển đẹp, chưa có bài tay khai thác của con người nên mỗi năm, xã Kỳ Xuân đã đón hơn 10.000 lượt khách du lịch, góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội địa phương phát triển. Anh Nguyễn Văn Tuấn, một du khách đến từ thành phố Hà Tĩnh cho biết: “Tôi thấy bãi biển này có dòng nước rất xanh, bãi biển rất rộng và đặc biệt giá cả các mặt hàng ở đây được bán rất hợp lý, không có việc chặt chém du khách như ở các điểm du lịch khác”.


 Là xã nằm ở vùng biển ngang, đất đai sản xuất nông nghiệp hạn hẹp, Do đó, phát triển du lịch  biển  được xem là một trong những mũi nhọn của xã Kỳ Xuân, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn mới.  Nhờ có bãi biển đẹp, có bàn tay khai thác của con người nên mỗi năm, xã Kỳ Xuân đã đón hơn 10.000 lượt khách du lịch, góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội địa phương phát triển.


 Với tiềm năng lợi thế của bãi biển Kỳ Xuân, địa phương đã quy hoạch xây dựng đề án phát triển du lịch, xem đây  là một trong những mũi nhọn của địa phương trong những năm tới.  Ngoài phát huy tiềm năng lợi thế của địa phương, sau khi tuyến đường kinh tế ven biển hoàn thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi để du khách gần xa có thể đến với biển Kỳ Xuân ngày càng nhiều, thúc đẩy du lịch biển. Nhằm đánh thức tiềm năng lợi thế này
Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Lịch sử giáo xứ Đông Yên, Kỳ Lợi từ năm 1879 – 2015




Phần 1: Giáo Xứ Đông Yên được hình thành
[Đang biên tập]

Năm 1879 có ba thuyền trẩy đi trên biển, bị phong ba xô dạt vào bờ biển làng Kênh Hà. Số người đi trên thuyền trẩy được lên bờ an toàn, nên họ lấy chổ đó, là đất lành chim đậu. Sau xin lập cư ở đó và đưa toàn bộ các gia đình gặp phong ba về ở thuộc làng Kênh Hà. 
 Năm 1880, có một thuyền làm nghề đăng trên sông Quyền, (tên gọi là ông Vựng). Quê ở Cửa Lò, Nghệ An. Trên thuyền nghề đăng, có hai vợ chồng và sáu đứa con trai. Cũng xin lập cư ở đó, dần dà quy tụ lại được khá đông, khoảng 200 người là những thành phần Kitô hữu, nên sớm hôm họ kinh nguyện địa điểm quy tụ là phía bắc làng Kênh Hà.
Trong thời gian đó, Kênh Hà muốn tách đạo đời cho rành, nên họ đặt lại Eo Đời và Eo Đạo. Năm 1880: Ông Vựng cùng với sáu đứa con trai tình nguyện xây cất một ngôi nhà nguyện, đã được bà con ủng hộ nên ngôi nhà Nguyện, được thành công trên mảnh đất Eo Đạo.
Năm 1881, Eo Đạo thuộc diện “ở độ”, nên họ đặt lại họ Eo Kinh. Sinh sống ở đó để họp chợ lấy người.
Năm 1889, ban hành giáo họ Eo Kinh bàn với giáo dân, xin làng Eo Đời tách ra, vì “ở độ” thì không có quyền lợi gì, được mọi người đồng ý chia tách. Thế là Ban Hành Giáo Họ lên xin phép Cha địa hạt Kỳ Anh: Là Cố Khanh (là linh mục thừa sai người Pháp): Nhờ Ngài giúp đỡ việc chia tách cho phù hợp, Cố Khanh đã đồng ý và giao cho các ông có trách nhiệm đến gặp ban ( Lý trưởng hành kiệm) làng Eo Đời, để xin tách Eo Kinh về nơi khác, nhưng làng Eo Đời không cho, sau đó Ban Hành Giáo lại lên trình với Cha địa hạt, thì Ngài giao cho Ban Hành Giáo lập “ tờ quyên lên” viết chữ đề trong bảng. Sau khi trình lên ban lý trưởng hành kiệm họ đồng ý nhưng phải theo luật làng, bỏ ra ba cái thăm số 1, số 2, số 3. Nếu các ông bắt được thăm số 1, thì được chia tách và họ quy định thời gian bốc thăm sau ba ngày: toàn bộ giáo họ Eo Kinh cử Cố Im trưởng ban hành giáo họ đến bốc thăm, Cố đã bắt trúng thăm số 1, sau đó Ban Hành Giáo đến trình với Cha địa hạt: Họ Eo Kinh đã được chia tách, nhờ Cha xem chổ ở  cho giáo họ, Cha Hạt đã xem địa lý, và chọn vùng đất Xuân Điện: vì đó có cây Đa cổ thụ nằm ở phía nam gần giáp ranh giới đất làng Eo Đời. 
 Cha Hạt lấy cây Đa làm mốc Xuân Điện: từ đó ông cha có câu ví rằng:
“ Xuân Điện có cây đa ba nhánh chín chồi
Xin mời về Xuan Điện mà ngồi cây đa chín chồi”
Từ đó dân làng đã đào một cái giếng (gọi là giếng ông Lê), Cha hạt cho phép tháo gỡ nhà thờ họ Eo Kinh về đặt tại đất Xuân Điện. Từ đó được gọi là họ Xuân Điện và được ổn định từ đó.
Năm 1898 số nhân danh lên tới 500 người, do đất chật người đông, nên muốn lấn đất Phác Môn, thấy khó khăn quá, Ban Hành Giáo Họ Xuân Điện đã đến trình  với Cha Quản hạt, để nhờ Ngài giúp đỡ, Cha hạt đã đến gặp lý trưởng hành kiệm làng Phác Môn, xin nhường cho họ Xuân Điện một ít đất ở. Phác Môn hoàn toàn không cho, ‘sau tạu thời không bán’. Từ đó Cha hạt phải mất nhiều công sức nhờ Quan huyện can thiệp, giúp đỡ nhưng cũng không được. Ngài lại tiếp tục đi vào Huế tâu với Bộ, Bộ đã đến tại vùng đất Phác Môn để xem xét. Sau đó: Bộ đã thư ra cho dân Phác Môn, ‘Đất nhượng về cho Cố’.
Nhưng Làng Phác Môn đồng tình không ký một người nào, Quan huyện nhổ hàng rào đập ông Cựu Què làng Phác Môn sáu lẻ. Quan bảo: đục hai gông, giải Cựu Què,Phù Diếu đến chổ làm việc và Cố Khanh giao cho các ông họ Xuân Điện lấy mốc từ Anh Miều bước 2000 bước đến đâu thì đóng mốc ở đó: Sau khi các ông bước đến mồ “ông Mạn” mới được 1000 bước, các ông thấy dài lắm rồi, nên xin Cố Khanh đóng mốc ở điểm đó, Cố Khanh đã đồng ý với các ông thế là đất họ Xuân Điện được “Khẩn” từ mồ Ông Mạn cho đến Cửa Anh Miều.
Đất Phác môn muốn “xiêu”, sinh chuyện này chuyện nọ:
Năm 1910, Cố Sung Bường chết được an tang tại vùng đất đã được chia ranh giới giữa Phác Môn và Xuân Điện, Phác Môn bức xúc không cho an táng ở nơi quy định vùng nghĩa địa mới của Xuân Điện nên xác ông Sung Bường phải quàn lại ba ngày đến ngày thứ tư: Họ Xuân Điện quyết định: chôn xác ông tại nơi đã quy định. Khi quan tài Cố Bường được đưa ra đến huyệt, thì làng Phác Môn chận đánh tơi bời, vì họ đã chủ động nên đám tang đã bị đổ máu.
Khi Cố Khanh thấy đau thương cho con cái mình, nên ra tay gạt bỏ được người Phác Môn, và xác ông Sung Bường được chôn ở nghĩa địa đó.
Khi được yên ổn trở lại, và được nhập chung xứ Dụ Lộc.
Năm 1930, bề trên địa phận bổ nhiệm Cha Vinh về coi sóc họ Xuân Điện, cũng thời điểm đó lại được tách từ xứ mẹ ra xứ con, Cha Vinh lập xứ: gọi là Dụ Yên Đông, và Ngài quản xứ cho đến năm 1940. Từ năm 1940 đến 1941 Cha Biện quản xứ.
Phần 2: Giáo Xứ Đông Yên hình thành và phát triển:
Năm 1941, bề trên địa phận bổ nhiệm Cha Phước về quản xứ, số giáo dân là 750 người.
Nhà thờ họ bị mục nát. Cha quản xứ bàn với giáo dân lúc này nên làm một ngôi nhà thờ trên vùng đất mới. Mặc dầu giáo dân đồng tình vì đói khát. Nên phàn nàn, Cha xứ đã phải đưa ra một quyết định: quỹ nhà xứ chỉ còn được hai chục thùng lúa. Trước thì cho trai vay, sau lấy tiền thuê “sợ”, toàn thể giáo dân đã nhất trí đồng tình theo quyết định của Cha.
Lúc đó “Trai kẻ rìu người rạ, chặt dàn dáo dàn cu, làng cắt bốn tên phu, len rừng cắt chạc quoại, về làng cũng loại, cũng lấy được ít nhiều”.
Bây giờ cha con trên thuận dưới hòa, vượt qua nhiều giai đoạn đói khát, cố vươn lên quyết tâm xây dựng được ngôi thánh đường.
Năm 1943, Cha vội vui mừng thông báo cho giáo dân biết, Ông Lôộc chủ thợ cho biết, còn mười ngày nữa bốn vì nhà thờ xứ sẽ được cất lên, nhưng sau đó năm ngày, giáo dân lại được tin ở nơi Cha xứ một nỗi buồn là: chủ sợ bỏ về Quảng Bình, lý do: Giáo dân ta quá túng cực thiếu tiền công của sợ nên công việc phải dán đoạn, mặc dầu cha xứ hết sức lo toan tính liệu, nhưng khó khan vẫn chồng chất.
Sau đó với sự soi dẫn của ơn trên, ông cha ta đã có đưa ra một sáng kiến là: phải bán hai người ‘ nhiêu’ thời đó ‘ tức hai thanh niên thời nay’, được người hai chục bạc để chạy hào cựu:
“ Ngồi bàn trên lo trước
Lo việc nước việc làng
Vô thuê thợ về làm
Xin đắp nền đi đã
Sức dân ta chở đá
Đưa về đến tại nền
Xin Cha Cả làm lễ bình yên
Thợ trèo lên Trúc Nghiên
Hô cho trai dựng cột
Hô cho làng kéo chạc
Ơn trong làng trong nác
Cho trên thuận dưới hòa
Việc tiền tài sinh ra
Mua cái gì cũng được
Ước như ta cũng ước
Ao như ta cũng ao
Sóng dục với gió dào
Con chiên ngồi khổ sở
Hết thẳng bụi thẳng bờ
Gió nam thời thổi tạt
Bề trên chưa oát nạt
Ngó ngao ngán ngó ngon
Bề trên thương chúng con
Có bốn tường bốn vách
Có mạo diện tiện từ
Chiều dọc đã bảy mươi
Chiều ngang thời bốn tám (thước nam)
Đến tháng 10 năm 1944, Ngôi nhà thờ xứ Dụ Yên Đông được hoàn thành, Cha quản xứ đã ban lại chủ thánh lễ hoàn thành cho cha quản xứ Xuân Sơn, là Cha Phượng công bố chính thức là xứ Đông Yên, Ngài nói:
“ Trước Con chúc mừng cho cha xứ
Sau chúc mừng cho họ chúng con
Đất Eo Kinh đường dài ngàn dặm
Nay mới được hoán cải Đông Yên chính xứ”
Tháng 12 năm 1944, Cha Phước kết thúc quản xứ Đông Yên được bề trên địạ phận thay về xứ Tràng Hải. Đúng thời điểm đó giáo xứ Đông Yên có tám trăm bổn đạo.
Năm 1944 – 1946 Cha Khoa quản xứ.
Gặp phải nạn đói khủng khiếp năm 1945 (Ất dậu) Cha đã cứu đói cho giáo dân mỗi ngày hai bữa cháo.
Từ năm 1946 – 1957, Cha Bường quản xứ.
Ngài tuổi già tám mươi, bề trên cho Ngài hưởng hưu tại quê nhà xứ Đan Sa.
Năm 1957 – 1960, Cha Phêrô Mai Ngọc Phác phụ trách giáo xứ.
Năm 1960 – đầu năm 1971, Cha Phêrô Vũ Văn Giáo quản xứ. Ngài bị chính quyền tỉnh Hà Tĩnh “kết tội” do xảy ra chiến tranh ác liệt với đế quốc Mỹ: cụ thể năm 1966, máy bay Mỹ oanh toạc đánh phá trên lãnh thổ toàn miền bắc Việt Nam, làm hư hỏng một số cơ sở tôn giáo… cụ thể nhà thờ xứ Dinh Cầu và bắn chết Cha Trương Văn Lộc tại nhà xứ Quý Hòa. Sau đó, chính quyền tổ chức buổi mít tinh, toàn giáo dân xứ Đông Yên và mời cha Vũ Văn Giáo tham dự. Chính quyền làm một bản kiến nghị nhằm tố cáo tội ác đế quốc Mỹ bắn phá nhà thờ trên toàn miền bắc Việt Nam. Cụ thể hai nhà thờ ở Bùi Chu- Phát Diệm. Trong buổi mít tinh đó, chính quyền đề nghị cha Vũ Văn Giáo ký vào bản kiến nghị để tố cáo tội ác đế quốc Mỹ. Cha đọc bản kiến nghị đó, cuối cùng Cha đề nghị với chính quyền phải sửa lại mấy chữ thì Ngài mới ký. Cha nói: Cha con chúng tôi đi tham dự mít tinh, nghe chính quyền nói: Nhà thờ Bùi Chu – Phát Diệm bị máy bay Mỹ bắn phá hư hỏng nặng, nhưng chính quyền quyết định không sửa, nên Cha không ký bản kiến nghị đó. Từ đó chính quyền quy và kết tội linh mục Vũ Văn Giáo là một tay phản động. Sau đó chính quyền tổ chức họp dân Đông Yên để kích động, lấy nhiều ý kiến của dân để phản đối cha xứ mình lý do gì tố cáo đế quốc Mỹ mà Cha không ký, giáo dân muôn người như một phản kháng lại cách làm manh động vu khống của chính quyền, đã kéo dài cho đến năm 1969.
Năm 1970, chính quyền Hà Tĩnh đã viết giấy triệu tập không thời hạn với cha xứ. Giáo dân biết ý đồ của chính quyền giữ cha lại không cho đi, từ đó chính quyền tổ chức hàng trăm công an, bộ đội, để bắt gọn Cha Vũ Văn Giáo.
72 ngày đêm bị chính quyền bao vây, nhưng các bà các chị, các em thiếu niên, không quản giá lạnh của tiết “đại hàn” mang bì đay thay áo ấm, thức ăn là giáu khoai non lấy sức chiến đấu, thế mà hang trăm quân đội của chính quyền phải chịu thất bại. Nhờ sự hy sinh cao cả của giáo dân đến nỗi quên cả tết nguyên đán năm 1971, trước sức mạnh đó, chính quyền Hà Tĩnh đã phải đến Tòa Giám Mục giáo phận Vinh để nhờ giải nguy, để đám đông giáo xứ Đông Yên đang bao vây giữ linh mục chung quanh nhà xứ ngày đêm liên tục đọc kinh ồn ào, biết ý định đó Tòa Giám Mục đã biết cách làm của chính quyền thất bại nặng nề. Mà cuộc chiến chính nghĩa của giáo dân xứ Đông Yên đã lừng lẫy khắp địa phận, vậy Tòa Giám Mục về giàn xếp là linh mục Huyền và linh mục Bài, khi hai vị linh mục về tại giáo xứ Đông Yên thì giáo dân không rõ đó là ai? Nên đã xô đẩy các ngài không cho vào nhà xứ. Sau đó giáo dân đã nhận được là hai linh mục liền mở cửa nhà xứ để hai cha vào gặp cha Giáo. Khi gặp xong, cha Huyền mở tất cả cửa nhà xứ, và Ngài mời tất cả bà con giáo dân cũng như cha xứ, vào nhà thờ để nghe vì cha Huyền là đặc phái của Tòa Giám Mục ngài công bố: “ đây là cái sảy nảy cái ung, từ nay cha xứ tự do đi lại dâng lễ hôm sớm cho bà con và xin mời bà con đừng bao vây chung quanh nhà xứ nữa về an tâm sản xuất”.
Đầu năm 1971, bề trên bổ nhiệm cha Vũ Văn Giáo về quản xứ Tịnh Giang: sau đó: chính quyền Hà Tĩnh có thông báo lại cho giáo dân biết: Linh mục Vũ Văn Giáo thay về xứ Tịnh Giang thuộc thị xã Hà Tĩnh chứ không phải là bắt: thế là cuộc bách hại giáo xứ Đông Yên đã kết thúc.
Cũng từ thời điểm đó, giáo xứ Đông Yên đã trở nên điểm nóng, cần được phá tan của chính quyền tỉnh Hà Tĩnh dưới chế độ cộng sản:
Từ năm 1971 – 1979, cha Giuse  Nguyễn Đăng Điền quản xứ. Ngài chuyên lo cho hai phần xác khỏe hồn an, và cách ăn mặc cũng tiến bước theo xã hội, cha dẫn dắt từng lối bước con chiên, kể cả người bệnh nạo tật nguyền, cha lo lắng con chiên lành ‘bỏ cỏ’, đúng thời điểm đó con số giáo dân xứ Đông Yên lên tới 2600 người, nhà thờ không đủ sức chứa, cha phải chui lòn dưới sự áp lực của chính quyền, để được phép cơ nới, cuối cùng chính quyền đã đồng ý, cha xứ quyết định. Nối dài thêm gần một nữa, cha đã đặt cung thánh, bàn thờ ở giữa để có ý thức cộng đồng hơn.
Nghĩ công cha như trời cao biển cả, chúng con nay biết lấy gì để trả nghĩa đền ơn.
Kể công cha như núi Thái Sơn, như nguồn suối Trường Sơn hằng tuôn chảy.
Khi đời sống giáo dân được phát triển cả hai mặt xác hồn thì cũng là lúc chính quyền Nghệ Tĩnh lại muốn bắt cóc cha xứ vào ngày 1 tháng 5 năm 1979.
Sau ba tháng trời: giáo dân đã khó nhọc tìm cha ra tận Hà Nội, gặp thủ tướng chính phủ ‘Phạm Văn Đồng’ cha xứ mới được chính quyền Nghệ Tĩnh trả lại tự do cho đi làm cha phó xứ ‘Quy Chính’, thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ Tĩnh, và miễn cưỡng thỏa hiệp với Tòa Giám Mục sai cha Cao Xuân Hành về quản xứ Đông Yên. Từ năm 1970 – 1984
Năm 1984 – 1991, cha Giuse Hồ Ngọc Bá quản xứ. Nhà thờ bị xuống cấp vì mối mọt cha hướng dẫn giáo dân xin phép khai thác gỗ, cụ thể giáo dân đã khai thác hàng chục khối gỗ các loại mà thực hiện làm nhà thờ bằng cột ống típ, từ đó cha đã cổ vũ giáo dân đóng góp một phần biển để xây dựng nhà thờ mới trong tương lai.
Năm 1991 – 1994, cha Gioan Baotixita Nguyễn Văn Tuệ quản xứ, cha cùng với giáo dân quyết định,làm mới một ngôi nhà thờ tương đối rộng lớn diện tích 1200 mét vuông, cũng đúng thời điểm con số giáo dân lên tới 3346 người, cha và giáo dân lấy ngày 7 tháng 10 “lễ Đức Mẹ Mân Côi” năm 1993 do cha Gioan Baotixita Nguyễn Văn Tuệ đặt viên đá móng.
Năm 1994 – 1998, cha Antôn Phạm Đức Hưởng quản xứ.
Năm 1998 – 2004, cha Phêrô Nguyễn Xuân Quý quản xứ ‘” nhà thờ giáo xứ Đông Yên khánh thành năm 1994 nhưng đến năm 2001 mới trả hết nợ nhà thờ, vì không có nguồn vốn nên giáo dân quyết định vay nợ làm cho xong”.
Cha Quý đã xây trong khuôn viên nhà xứ hai ngôi nhà khu A và khu B, năm 2002 cha vận động giáo dân, đã làm được 4km đường bêtông hóa bịt kín toàn giáo xứ.
Năm 2004 – 2006, cha Phêrô Nguyễn Thái Từ quản xứ. Cha đã xây dựng một ngôi nhà xứ hai lầu với diện tích 1000 mét vuông và một nhà tiếp khách.
Phần 3: Giáo Xứ Đông Yên Bị Tàn Phá
Năm 2006, bề trên địa phận sai tân linh mục An tôn Nguyễn Quang Tuấn về quản xứ, năm 2006 – 2009 cha xứ và giáo dân được bình an.
Năm 2010, cha Nguyễn Quang Tuấn đã bị anh Mai Văn Hoàng công ty Grobest  người xứ Đông Yên, là một doanh nghiệp mua chuộc quyến rũ khi đó: cha Tuấn đã bàn với hội đồng mục vụ giáo xứ gồm bảy người: Trần Ngọc Quý ‘chủ tịch hội đồng’, Mai Văn Quỳnh, Nguyễn Xuân Tọa, Hoàng Đoán, Mai Xuân Toàn, Mai Thanh Tịnh, Mai Xuân Trị cùng với bốn cán bộ thôn trưởng là: Nguyễn Hữu Bảo, Dương Nhiên, Mai Văn Chất, Nguyễn Chân Lý, đồng thời kết hợp với chính quyền tỉnh Hà Tĩnh, huyện Kỳ Anh bán giáo xứ Đông Yên:   Cả giáo dân lẫn cả công trình tôn giáo như nhà thờ, hai quảng trường Đức Mẹ, trường giáo lý, quảng trường Thánh Phêrô, nhà ở của hội dòng Bác Ái, các công trình nhà xứ. Và dùng mọi thủ đoạn để mê hoặc giáo dân “là tái định cư của nhà nước”.
Tự in phiếu thăm dò có đóng dấu của giáo hội địa phương.
Dùng đủ mọi hình thức để áp bức những người không đồng tình ủng hộ thể hiện việc làm như sau:
Cụ thể năm 2011, cha Tuấn đã chủ xướng bán giáo xứ Đông Yên cho chính quyền Hà Tĩnh thể hiện: làm đơn lên chính quyền Hà Tĩnh  xin cho giáo dân ĐôngYên đi tái định cư mà không tham khảo qua ý kiến giáo dân, sau một tháng cha cùng ban hành giáo đã tổ chức một cuộc họp vào lúc 7 giờ tối. Có 800 hộ gia đình tham dự, đại diện ban hành giáo là ông Mai Văn Quỳnh đọc công văn của ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, nội dung công văn là: “nguyện vọng của nhân dân bốn thôn Đông Yên xin di dời tái định cư 2011 – 2012 để sớm ổn định cuộc sống”. tiếp theo đó cha Tuấn đã làm phiếu thăm dò và cốc con dấu của giáo hội vào phiếu, có hai ô đi và không đi, chọn điểm đến. Ban hành giáo đưa đi phát cho từng gia đình, sau bảy ngày thu lại chỉ được ba mươi phần trăm nhất trí đi. Chiều lễ chủ nhật hôm đó cha xứ công bố: “ ai không ký phiếu thăm dò đi tái định cư, là hạng người dê, sói, chống giáo hội, chống Đức Cha, chống cha xứ, ai không ký phiếu thăm dò có con đi tu tôi không chứng nhận giấy”. Để bảo toàn đồng minh cha đã cách chức ba cán bộ xóm, bốn vị hành giáo, bảy thầy cô giáo lý viên, thay vào đó là những người nhất trí đi tái định cư. Còn riêng cán bộ thôn cha Tuấn mời phòng nội vụ về tại nhà xứ bầu lại và đã được kết quả như ý cha muốn.
Suốt ba năm trời cha xứ đã dùng tòa giảng trong thánh lễ chủ nhật, tuyên truyền việc tái định cư thay cho chính quyền. 
Mặt khác, cha còn nói với giáo dân “cứ xây nhà, mua sắm ngư cụ chính quyền sẽ đền bù từ A đến Z họ không đền tôi sẽ đền cho” từ đó giáo dân đã đua nhau xây dựng nhà, mua ngư cụ.
Đến thời gian đo đạc, thì ban hành giáo và hội  đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư huyện Kỳ Anh tiến hành đo đạc, kiểm đếm, cụ thể: ‘ai bỏ tiền phong bì nhiều cho ban đo đạc thì được hưởng nhiều’, kết quả cho thấy: hộ nào tài sản nhà cửa ít thì lại được nhiều tiền, và ngược lại. Chứng minh thế là lợi ích cho một nhóm mà cha Tuấn đã cố công tìm kiếm. Phần ngư cụ phía chính quyền là họ sẽ hỗ trợ cho 70% nhưng sáng lễ chủ nhật tháng 3 năm 2012 cha Tuấn thông báo trở lại: “Ngư cụ của bà con được mấy hào, để cho Tôi đòi cho mỗi khẩu 50 triệu thì hơn”.
Ngày 29 tháng 6 năm 2013, lễ thánh Phêrô quan thầy, cha Tuấn đã thông báo cho giáo dân biết: “Nhà thờ của chúng ta, nhà nước đền bù cho 438 tỷ đồng vn”, nhưng sau đó một tuần, vào ngày chủ nhật cha Tuấn thông báo là: “toàn bộ công trình cơ sở tôn giáo của giáo xứ ta, đền bù chỉ được 29 tỷ 700 triệu đồng”. Đến chủ nhật tiếp theo, cha Tuấn đã đưa quyết định của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp GM giáo phận Vinh, dơ lên cho giáo dân biết: “Đức Cha đã bán dấu đỏ bán nhà thờ, ba quảng trường, trường giáo lý,công trình nhà xứ, đất đai và toàn bộ cơ sở của giáo xứ được 70 tỷ đồng” cha Tuấn đã công bố chiều thứ sáu tuần thánh năm 2013: “Tôi mà ra khỏi giáo xứ Tôi sẽ đọc từng tên những thằng học được mấy chữ. Và khi Tôi đã ra khỏi, Tôi sẽ đạp nát cái giáo xứ này” (đúng như cha Tuấn đã phán cho đến ngày hôm nay 13 tháng 10 năm 2015, giáo xứ Đông Yên chỉ thấy từng đống gạch vụn). Quả thực, Cha Tuấn quản xứ thật khó nhọc biết là dường nào.
Nhưng than ôi!


Read More
Unknown

Độc đáo chợ trâu bò vùng Thượng… Kỳ Anh




Sông Rào Trổ chảy xuôi chia đôi 2 xã Kỳ Lâm và Kỳ Sơn (Kỳ Anh). Ở đôi bờ con sông ấy có phiên chợ quê khá độc đáo. Độc đáo vì ngày họp chợ được tính theo lịch tây (dương lịch) chứ không phải lịch ta (âm lịch) như thông thường. Độc đáo vì ...




Vì cứ vào ngày 10, 25 hàng tháng thì chợ họp bên bờ sông của Kỳ Lâm, còn đến ngày 15, 30 thì chuyển về bên bờ sông của Kỳ Sơn. Chợ chỉ mua – bán mỗi trâu, bò…

Từ sáng sớm, ông Bảng – người ông bên nhà vợ, từ Hà Nội về cưới cháu trai, đã giục tôi dậy sớm để ra chợ. Trời vẫn đang se lạnh. Trên bàn thờ phía trong nhà vẫn còn 3 cây hương cháy dở. Lòng tôi chợt chùng xuống trong niềm xúc động, bởi tôi biết ông đang nhớ về bố vợ tôi – một “lái” trâu, bò có tiếng đã mất vì bạo bệnh, cũng như đang nhớ về những phiên chợ ngày xưa, nơi ông nhiều lần theo chân bố mẹ ra chợ mua trâu, bò…
Chợ trâu bò vùng Thượng…

Chợ trâu nằm ngay dưới chân cầu Rào Trổ, trên một khoảnh đất trống bên quốc lộ 12

Hai ông cháu men theo con đường đất đỏ, vòng dưới chân cầu Rào Trổ để lên chợ. Cậu Kỳ – em mẹ vợ tôi, cũng là một người con Kỳ Sơn làm ăn xa xứ cùng đi. Trong niềm háo hức tột độ, cả 3 chúng tôi đi lẫn vào giữa cơ man trâu, bò. Giữa những ông trâu sừng cong như lưỡi kiếm, đang nghếch đầu nghênh nghênh với ả trâu bên cạnh là những chú nghé mới 5-7 tháng tuổi, hình như vẫn còn ngái ngủ, đang rúc đầu vào bụng mẹ… Cả khu chợ rộn ràng trong tiếng người trao đổi, tiếng trâu, bò ậm ò huyên náo một khúc sông.

Chợ nằm ngay dưới chân cầu Rào Trổ, trên một khoảnh đất trống bên quốc lộ 12. Không ai biết chính xác chợ này mở phiên đầu tiên vào thời gian nào, nhưng theo các cụ cao niên ở Kỳ Sơn thì ngay từ nhỏ, các cụ đã biết mỗi tháng có 4 phiên họp chợ trâu, bò vào các ngày 10, 15, 25, 30 dương lịch. Không kém phần ồn ào và náo nhiệt, nhưng chợ ở đây lại có phần đặc sắc hơn phiên chợ trâu bò ở chợ Nhe (Can Lộc). Bởi nơi đây vẫn còn lưu giữ nguyên sơ bản sắc văn hóa vùng miền, hội tụ đầy đủ những nét sinh hoạt đặc sắc của người dân các xã vùng thượng Kỳ Anh. Người vào chợ không cần mua vé, người bán trâu, bò cũng chẳng cần nộp lệ phí chợ. Có chăng là thủ tục viết giấy chứng nhận mua bán trâu, bò sau mỗi giao dịch thành công, với lệ phí phải đóng là 20.000 đồng. Nếu để ý kỹ, rất dễ nhận ra người dắt trâu từ vùng sâu Kỳ Thượng ra, người lùa bò từ vùng cao Kỳ Tây, Kỳ Hợp xuống… Không lẫn vào đâu được, nhưng những “lái” trâu, bò có tiếng nơi đây thì hình như chỉ có người bản địa. Dẫu rằng, vẫn gặp đôi ba khuôn mặt quen thuộc từ chợ Nhe vào, hay từ Đồng Lê (Quảng Bình) sang, nhưng rồi họ vẫn quần tụ bên những “lái” bản địa như “lái” Toàn, “lái” Dương…

Không khó để tìm gặp “lái” Dương, bởi trước đó người nhà đã nói sơ qua cho tôi biết. Dương sinh năm 1985, tuổi trâu, lại là “truyền nhân” của người bố từng là “một cặp bài trùng” buôn bò khét tiếng với bố vợ tôi, nên Dương rất “vượng” về cung đường… buôn bán trâu, bò. Hơn ai hết, chỉ nhìn qua con trâu, con bò vừa bước vào bãi chợ là Dương có thể đọc vanh vách con này ăn hay, cày khỏe; hay con kia chỉ để… làm thịt vì có tướng phản chủ. Đang lân la hỏi chuyện thì có người đàn ông dắt con trâu mộng vào bãi, có người lại thì thầm to nhỏ với Dương. Nhìn một lượt từ đầu đến chân trâu, như không cần giữ ý tứ, Dương phát giá “35 thì bỏ, 33 cầm thừng, không thì dắt ra kia”. Tôi chưa hiểu chuyện gì thì người dắt trâu đi bán lại nói với Dương: “Chú mi xem lại, chứ con này anh không muốn đưa ra chợ đâu. Đứa con gái lớn vừa tốt nghiệp đại học xong, anh mới phải bán để lo việc cho con. Chứ 35 triệu là giá hời rồi, 33 triệu anh bán răng được”.



Chợ trâu bò vùng Thượng…Kỳ Anh

Nếu để ý kỹ, rất dễ nhận ra người dắt trâu từ vùng sâu Kỳ Thượng ra, người lùa bò từ vùng cao Kỳ Tây, Kỳ Hợp xuống…

Dương không nói, không rằng, rít một hơi thuốc rồi… đi thẳng lại quán ăn dã chiến ngay trên bãi. Dương nói thẳng tưng với tôi: “Con trâu đó không qua tay em thì chẳng ai dám rước. Trâu đẹp! 35 triệu đúng giá, nhưng em xuống giá tý để kiếm thêm, chứ từ sáng đến giờ quay vòng 5 con rồi, nhưng chưa ăn thua”. Chúng tôi vào quán ăn vội bát cháo lòng, thấy Dương cứ cắm cúi ăn, như không để ý gì đến xung quanh. Chỉ một lát sau, người đàn ông bán trâu đi lại, kêu Dương ra và chốt giá 34 triệu. Cả hai cùng cười, “tiền trao, trâu dắt”!

Chúng tôi lân la hỏi chuyện 2 cán bộ tư pháp và thú y của xã Kỳ Sơn đang ngồi làm thủ tục trên cái chòi ở chỗ cao nhất bãi chợ. Được biết, từ sáng đến giờ đã viết giấy, làm thủ tục sang tên, đổi chủ cho… 12 chú trâu, bò. Theo các anh, lượng trâu, bò họp chợ bình quân 250-300 con, giao dịch mua bán cũng xấp xỉ 50-70 con mỗi phiên, nhưng số người lại làm thủ tục sang tên, đổi chủ cho trâu, bò chỉ chiếm một phần nhỏ, vì nếu người mua, người bán mà tin nhau, cùng làng, cùng xã thì hầu hết không cần viết giấy. Như vậy, cùng với việc trâu, bò vào chợ không phải mua vé, nộp lệ phí, thì các giao dịch mua, bán diễn ra trong phiên chợ này đang được đơn giản đến mức tối đa, tạo điều kiện thuận lợi cho cả người bán lẫn người mua, chính quyền chỉ giữ vai trò kiểm soát dịch bệnh và làm thủ tục khi có yêu cầu.

Tầm 10h, khi cái nắng hắt lên từ mặt sông từng tia sáng chói mắt, phiên chợ cũng bắt đầu vãn. Từng đoàn người không bán được trâu, bò lại dắt về chờ phiên sau, để lại nơi góc chợ một vài nhóm người tụm năm, tụm bảy, nâng ly bàn tán về cuộc ngả giá thành công. Chợt thấy sắc mặt cô chủ quán hồng hồng… Chắc phiên chợ này đắt khách?

Bùi Tiến – Nhật Quang
 Người Kỳ Anh



Read More
Unknown

Dân ca ví giặm đằm thắm nghĩa tình trên quê hương Kỳ Anh



Tình yêu Tổ quốc trước hết được bắt nguồn từ tình yêu tha thiết khúc hát dân ca. Ngày nay, dân ca ví Giặm Nghệ Tĩnh đã đuợc UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Đó là minh chứng thể hiện sự trường tồn, sức sống mãnh liệt của làn điệu Ví, Giặm trong tâm hồn mỗi người dân trên mảnh đất Nghệ An - Hà Tĩnh.


Với hai lối hát dân ca không nhạc đệm, xuất hiện đã hàng trăm năm, được cư dân Nghệ Tĩnh sáng tạo ra trong quá trình lao động, sản xuất, sinh hoạt đời thường.

 Dân ca ví Giặm đang được bảo tồn và phát triển trên quê hương Kỳ Anh
Nhằm  bảo tồn và phát triển các làn điệu dân ca ví Giặm Nghệ Tĩnh, thời gian qua, huyện Kỳ Anh đã đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát triển các câu lạc bộ dân ca ví Giặm. Đến thời điểm này, 100 %  Trường Tiểu học ở huyện Kỳ Anh đã thành lập được câu lạc bộ dân ca ví Giặm. Riêng ở các xã cũng thành lập được 10 Câu lạc bộ dân ca ví Giặm xã Kỳ Xuân, Kỳ Phú, Kỳ Đồng…. Để dân ca ví Giặm ăn sâu trong tiềm thức của mỗi người dân, những khi sinh hoạt hay hội diễn văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ dân ca ví Giặm ở huyện Kỳ Anh đã mang đến cho người xem nhiều tiết mục dân ca với nội dung phong phú như; Hát giao duyên, ví đò đưa, hát đối đáp, hát ví o Nhẫn… và cả các làn điệu gốc và làn điệu cải biên đều được sưu tầm với nội dung chủ đề ca ngợi Đảng, bác Hồ, tinh thần lao động, tình yêu cuộc sống, quê hương đất nước, con người mang đậm bản sắc xứ Nghệ, thu hút đông đảo nhân dân đến xem, cổ vũ.  Trong số đó, nhiều làn điệu dân ca đậm đà bản sắc ấy lại thể hiện những đặc trưng riêng của các vùng quê ở huyện Kỳ Anh. Giờ đây, dân ca ví Giặm ngày càng được đưa đến với công chúng nhiều hơn qua các hội diễn, liên hoan văn nghệ quần chúng. Trong đó, nhiều tiết mục dân ca ví Giặm được các câu lạc bộ trên địa bàn huyện Kỳ Anh dàn dựng công phu từ nội dung, đến cách thể hiện mang lại nhiều ấn tượng cho khán giả,  sâu lắng, miệt mài đằm thắm qua các hội diễn dân ca ví dặm mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.


Ảnh: Các địa phương ở huyện Kỳ Anh đã thành lập các Câu lạc bộ nhằm bảo tồn và phát triển dân ca ví Giặm Nghệ Tĩnh.
Để dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh trở về với cội nguồn của nó, mỗi chúng ta cần phải bảo tồn và khôi phục các không gian trình diễn dân gian trong các địa bàn dân cư, làng xóm, để nhân dân lao động thực sự là chủ thể sáng tạo và thưởng thức vẻ đẹp âm nhạc độc đáo, đằm thắm, trữ tình vốn có của  dân ca ví Giặm Nghệ Tĩnh. Đồng thời, khuyến khích sáng tác lời mới cho dân ca Ví, Giặm với  các tác phẩm âm nhạc mới trên nền dân ca Nghệ Tĩnh ca ngợi đất nước, quê hương, cuộc sống đang từng ngày đổi mới.

Đưa Dân ca Ví giặm vào các trường Mầm non ở Kỳ Anh
Giờ đây, dân ca Ví giặm được  các trường Mầm non trên địa bàn huyện Kỳ Anh đưa vào giảng dạy. Qua những làn điệu dân ca Ví giặm Nghệ Tĩnh và các trò chơi dân gian góp phần bồi đắp tâm hồn cho trẻ thơ ngay từ thời thơ ấu. Ấn tượng và sâu lắng những đó là những gì diễn ra qua hội thi “ Bé yêu làn điệu dân ca và trò chơi dân gian năm học 2015- 2016” ở các trường Mầm non trên địa bàn toàn huyện.



Dân ca ví Giặm nuôi dưỡng tâm hồn cho trẻ thơ.

Đi đầu trong phong trào đưa dân ca Ví Dặm vào trường học ở huyện Kỳ Anh tiêu biểu như Trường Mầm non Kỳ Xuân. Là ngôi trường nằm ở vùng bãi ngang ven biển, nơi còn gặp nhiều khó khăn về trường lớp, cơ sở vật chất song ban giám hiệu nhà trường đã  quan tâm đầu tư đưa dân ca ví dặm vào giảng dạy trong nhà trường. Để dân ca ví dặm trở thành 1 hoạt động giảng dạy thường xuyên

Có thể nói, Dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh là loại hình nghệ thuật độc đáo, được sáng tạo lưu truyền trong quá trình lao động, sản xuất, sinh hoạt gắn với không gian quen thuộc như ruộng đồng, đồi núi. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, loại hình nghệ thuật đã bồi đắp tâm hồn, nuôi dưỡng tinh thần con người xứ Nghệ, trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, với việc đưa dân ca ví dặm đưa vào các trường học mầm non sẽ giáo dục truyền thống vào giáo dục cho các cháu thiếu nhi các làn điệu dân ca của các vùng miền để từ đó chúng ta luôn tự hào, giáo dục nhân cách sống và phấn đấu vươn lên trong học tập.
Mạnh Hải
Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Đền Bản Thổ - Kỳ Ninh, lưu giữ 13 đạo sắc phong cổ



Tại đền Bản Thổ thuộc phường Kỳ Ninh, thị xã Kỳ Anh hiện đang lưu giữ 13 đạo sắc cổ thời Nguyễn phong cho các vị nhiên thần, nhân thần được nhân dân địa phương thờ phụng.



Sắc phong làm từ giấy dó màu vàng sẫm với nhiều họa tiết rồng mây, kích thước loại 0.4m x 1.0m và loại 0.4m x 1.2m. Nhờ được bảo quản tốt, các sắc phong còn khá nguyên vẹn, chữ rõ nét. Trong số 13 đạo sắc có 02 đạo của vua Tự Đức, 01 đạo của vua Đồng Khánh, 03 đạo của vua Thành Thái, 01 đạo của vua Duy Tân và 06 đạo của vua Khải Định. Sắc phong được ban sớm nhất vào năm Tự Đức thứ 6 (1853) và muộn nhất vào năm Khải Định thứ 9 (1924).Các đạo sắc có nội dung phong thần, ban tặng mỹ tự, thăng trật của nhà vua cho các các vị thần: Bản Cảnh thành hoàng, Nam Hải cự tộc ngọc lân (Cá Ông), Tam Tòa Đại vương (Lý Nhật Quang) và Hộ quốc Thượng tướng quân Đô đốc Điện quận công (Phạm Hoành).

Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Thành luỹ cổ độc đáo bậc nhất Bắc Trung Bộ còn nguyên vẹn trên đỉnh Đèo Bột - Kỳ Anh

[Đang biên tập]
Hệ thống thành luỹ cổ bằng đá vừa được phát hiện tại đỉnh Đèo Bụt, thuộc dãy núi Hoành Sơn (Hà Tĩnh). Nhiều nhà khoa học khẳng định, đây là công trình kiến trúc cổ giá trị, độc đáo bậc nhất Bắc Trung bộ còn nguyên vẹn.


Ông Lê Bá Hạnh, Phó GĐ Bảo tàng Hà Tĩnh cho biết, hệ thống thành lũy này được ghép bằnh những viên đá đã được cắt gọt, vuông vức theo phương thẳng đứng. Độ cao của thành lũy hơn 3m, phía mặt trên thành khá bằng phẳng, nơi rộng nhất khoảng 2m và hẹp nhất từ 1,2 – 1,5m. Hệ thống thành lũy bằng đá này nằm về phía Bắc của dãy Hoành Sơn Quan theo trục Đông – Tây, mặt trước thành hướng về phía Nam, chiều dài ước tính hàng chục kilômét và khả năng còn kéo đến tận địa phận tỉnh Quảng Bình. Hiện mới chỉ phát hiện được một đoạn thành lũy còn khá nguyên vẹn dài khoảng 500m.

Theo chiều dài của thân thành lũy cứ cách nhau khoảng 3-4m lại được trổ hỏa hiệu kiểu dạng hình phễu, mặt trước to, mặt sau thu nhỏ lại, khả năng khi xây dựng công dụng của thành là vừa để thoát nước vừa quan sát đánh trả kẻ địch lúc công phá thành.
Ở vị trí đặt hỏa hiệu hai bên có xây bậc theo kiểu tam cấp cho quân lính lên xuống thành lũy thuận tiện, đồng thời có địa điểm để tập kết quân lính được đào sâu dưới chân thành về phía Bắc gọi là hộc đóng quân, có kích thước hình vuông mỗi chiều dài từ 4,5-5m…
Ông Hồ Bách Khoa, Trưởng ban quản lý Khu di tích đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, một trong những người đầu tiên phát hiện ra hệ thống thành lũy bằng đá cổ này cho biết, trước đó vào khoảng năm 1993 sau hàng chục lần lên khu vực đèo Bụt và cả vùng rừng núi Hoành Sơn tìm kiếm đã phát hiện ra được hệ thống thành lũy đá cổ này. Theo ý kiến bước đầu của một số nhà nghiên cứu văn hóa, di sản, rất có khả năng hệ thống thành lũy đá cổ này là dấu tích còn lại trong hệ thống thành lũy cổ của vương quốc Lâm Ấp (thời kỳ Đại Việt – Champa) với chiều dài trên 30km do vương quốc Lâm Ấp xây dựng dựa vào dãy Hoành Sơn, với mục đích phòng thủ bảo vệ biên giới… Đến giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh thì hệ thống thành lũy đá cổ này mới tiếp tục được chúa Trịnh Toàn củng cố thêm, cho nên người dân địa phương vẫn còn gọi là lũy Ông Ninh (Ninh Quận công – Trịnh Toàn). “Đây là một hệ thống công trình thành lũy cổ bằng đá rất độc đáo, được xây dựng với kỹ thuật kiến trúc bậc cao, có giá trị văn hóa, lịch sử và có ý nghĩa rất quan trọng”, ông Hạnh nói thêm.
Ông Lê Văn Cương (67 tuổi, nhà ở xóm Lạc Thắng, xã Kỳ Lạc) cho biết “Thành lũy đá cổ này được xây từ lâu lắm. Từ đời cố tôi đã thấy có rồi. Đặc biệt, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, đây còn là nơi hành quân, trú ẩn, chiến đấu an toàn của quân và dân ta”.Cùng chiêm ngưỡng hình ảnh thành luỹ cổ
Read More
Unknown

Về Kỳ Anh thăm biển Kỳ Xuân (Hà Tĩnh)



Biển Kỳ Xuân là bãi biển thuộc địa phận của ba thôn Thắng Lợi, Nguyễn Huệ và Xuân Phú. Bãi biển có chiều dài gần 13km. Tuy vậy ngư dân nơi đây chỉ chiến 30% còn đa phần là nông dân chiếm tới 70%. Xã Kỳ Xuân là xã vùng ngoài huyện Kỳ Anh. Đây là một địa điểm mà những người con Kỳ Anh xa quê và cả khách du lịch ghé đến.



Nếu bạn đi từ quốc lộ 1A thì tới biển Kỳ Xuân khoảng cách chỉ là 5km và mất chừng 10 phút đi xe máy, đường ở đây được làm bê tong nên trông cũng khá sạch đẹp và thoáng đãng, làn đường đủ rộng cho hai làn ô tô tránh nhau. Phía sau bãi biển là những ngọn núi nguyên sinh và khu vực rừng phòng hộ dùng để che chắn sóng biển gió bão, những ngôi làng chài cạnh bờ biển đã tạo nên một cảnh đẹp thiên nhiên thú vị nơi đây.






Cũng là môt bãi biển vẫn còn giữ được vẻ hoang sơ của biển, nước biển còn rất trong xanh và những bãi cát trải dài trắng mịn. Mỗi du khách tới đây đều thấy hấp dẫn bởi những rặng phi lao được trồng quanh mép nước biển. Biển Kỳ Xuân ngoài sở hữu những bãi tắm với khung cảnh đẹp còn sở hữu hai danh thắng khác thực sự tạo nên cảm giác đặc biệt và trọn vẹn.


Kỳ Xuân ngoài vẻ đẹp hoang sơ của bạn còn được nhiều du khách biết đến bởi những đặc sản biển mà không phải bãi biển nào cũng có. Đó là những loại chim Cu Kỳ, Cụp, những loại tôm hùm… là những loại đặc sản mà chỉ Kỳ Xuân mới có. Mặc dù chính quyền địa phương nơi đây chưa khai thác thế mạnh du lịch nhưng cứ đến mùa hè thì những du khách đều tìm tới đây như một thói quen của họ.

Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Dấu tích kênh nhà Lê tại Hà Tĩnh đoạn qua Kỳ Anh


(Người Kỳ Anh) Kênh đào nhà Lê được làm từ thời vua Lê Hoàn vào năm 983, trải qua nhiều thế kỷ, hiện nay một số đoạn kênh tại Hà Tĩnh vẫn còn nguyên vẹn, khung cảnh rất đẹp.



Kênh nhà Lê được xây dựng từ thời vua Lê Đại Hành, hoàn thiện từ thời vua Lê Lợi, kéo dài từ Ninh Bình tới Hà Tĩnh. Tại Hà Tĩnh, nơi bắt nguồn kênh nhà Lê nằm ở ngã ba Sông Lam, nối giữa xã Đức Vĩnh (huyện Đức Thọ) và huyện Hưng Nguyên (Nghệ An). Đoạn kênh qua địa phận Hà Tĩnh sâu khoảng 3-5 m, rộng trung bình 10 m, dài hơn 100 km, chảy quanh co qua làng mạc của các huyện Đức Thọ, Hồng Lĩnh, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, thị xã Kỳ Anh rồi đổ ra biển.

Thời vua Lê Đại Hành, hệ thống kênh đào cổ này dùng để vận tải quân lương về phía Nam Đại Cồ Việt nhằm mở rộng lãnh thổ phía Nam và phát triển kinh tế nông nghiệp nước nhà. Kênh được xem là tuyến đường thủy nội địa từ kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình), nối liền các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Đến thời Lý, Trần, kênh là đường quân sự để chiến thuyền đi đánh quân xâm lược; tới thời vua Lê Lợi, hệ thống kênh đào được hoàn chỉnh.



Theo sử sách, để đào kênh, nhà vua đã ra sắc chỉ. Địa phương nào nhận được chỉ thị thì phải huy động người dân tới làm, qua thời gian, các thế hệ cứ thế nối tiếp bồi đắp, nạo vét để giao thương đi lại buôn bán. Ông Lê Bá Hạnh, Phó giám đốc Bảo tàng Hà Tĩnh cho biết, trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ những lùm cây cối um tùm ở nhiều đoạn kênh nhà Lê tại Hà Tĩnh thường được dùng để giấu khí tài, đạn dược giúp tiền tuyến đánh giặc. Đây cũng là nơi lưu dấu ấn của vua Lê Lợi trong thời gian lập căn cứ Đỗ Gia (chống quân Minh).


Một số nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa cho hay, kênh đào nhà Lê là tổng hòa của mọi tác dụng từ kinh tế tới quân sự, là nơi kết nối với mọi miền đất nước. "Những dấu tích, hiện trạng nguyên vẹn của kênh nhà Lê cần được bảo tồn để thế hệ sau biết được giá trị của một công trình ghi dấu ấn lịch sử, tồn tại qua nhiều thế kỷ và hiểu rõ truyền thống hào hùng của cha ông"

Đoạn sông Nhà Lê phía nam Hà Tĩnh là đoạn cuối cùng mang tên sông Nhà Lê, nó khởi đầu từ sông Rác tại xã Cẩm Lạc, Cẩm Xuyên chảy qua xã Cẩm Minh rồi đi vào huyện Kỳ Anh (qua các xã: Kỳ Phong, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Đồng, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh rồi đổ ra biển tại cửa khẩu vịnh Vũng Áng. Khu vực này nằm sát chân Đèo Ngang, vốn là ranh giới giữa Đại Cồ Việt và Chiêm Thành thời Tiền Lê.



Ông Thái Kim Đỉnh, nhà nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, địa chí Hà Tĩnh cho rằng, kênh nhà Lê đoạn phía nam của Hà Tĩnh là kênh đào cổ xưa, dài khoảng 35 km, rộng trung bình từ 15-20 m, có đoạn rộng từ 25-30 m, là hệ thống những đoạn kênh đào nối với các sông tự nhiên đã có sẵn. Kênh được khởi đào từ thời Tiền Lê với mục đích quân sự. Sau đó, trải qua các triều đại phong kiến khác, kênh nhà Lê ở phía nam Hà Tĩnh được đào, nắn thẳng và khơi sâu thêm nhằm phục vụ cho mục đích quân sự, giao thương giữa các vùng miền Hà Tĩnh với nhau và giữa Hà Tĩnh với các tỉnh phía bắc.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Giáp Dần năm Long Khánh thứ 2, đời vua Trần Duệ Tông (1374), tháng 3 xuống chiếu cho Thanh Hóa, Nghệ An đào kênh đến cửa biển Hà Hoa” (Vũng Áng). Theo nhà nghiên cứu Đào Tam Tỉnh, đó là hệ thống những kênh đào nối sông Đáy ở cửa Thần Phù với các sông tự nhiên khác. Trước đó, thuyền bè từ bắc vào đến phía nam Hà Tĩnh phải đi ra cửa Nhượng Bạn (cửa sông Rác, thuộc xã Cẩm Nhượng hiện nay) để ra biển rồi mới vào châu Ô, châu Lý. Để tránh bớt nguy hiểm từ việc phải đi đường biển quá xa, vua Trần Duệ Tông đã sai đào sông cho thông vào đến Cửa Khẩu (Vũng Áng), tránh được đoạn đường biển nguy hiểm này. Sau khi kênh được đào thông từ sông Rác vào Cửa Khẩu, năm 1377, đoàn chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông đã sử dụng con kênh này.

Cửa biển này từng ghi dấu nhiều sự kiện của đất nước, đặc biệt là các sự kiện liên quan đến các cuộc xung đột giữa Đại Việt và Chiêm Thành, Trịnh - Nguyễn. Nhiều vua chúa, đại thần các triều đình trên đường nam chinh từng dừng chân tại cửa biển để vãn cảnh, làm thơ hoặc chọn nơi này xây dựng căn cứ để chống kẻ thù. Hiện nay, đây là cảng biển quy mô gắn liền với khu kinh tế Vũng Áng thu hút được nhiều dự án công nghiệp lớn.



Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, bộ đội Việt Nam đã lợi dụng kênh nhà Lê để vận chuyển lương thực, vũ khí từ các huyện Thạch Hà, Can Lộc, Nghi Xuân… vào vùng chiến lược đèo Ngang. Bên cạnh đó, lợi dụng vào hướng chảy, sự giao thoa của kênh nhà Lê với hệ thống sông, suối tự nhiên vùng giáp ranh với tỉnh Quảng Bình, những năm 1967-1970, bộ đội Việt Nam đã đưa lương thực, vũ khí từ miền Bắc theo đường biển vào cửa vịnh Vũng Áng, ngược lên các huyện miền núi phía bắc Quảng Bình rồi sau đó đưa vào chiến trường Quảng Trị, Khu 5.

Nguy cơ thành kênh lấp

Qua quá trình bồi lấp tự nhiên cộng với tác động bởi bàn tay con người và không được nạo vét nên hiện nay, kênh nhà Lê ở đoạn cuối này đã bị nắn dòng chảy, nhiều đoạn không còn thông dòng như trước. Điểm rộng nhất của kênh nhà Lê ở phía nam Hà Tĩnh khoảng hơn 30 m, sâu 12 m thuộc đoạn gần cửa Hải Khẩu, xã Kỳ Ninh và cửa vịnh Vũng Áng. Nhưng có nhiều điểm hiện còn rất hẹp, chỉ từ 3-4 m. Thậm chí, kênh nhà Lê tại điểm giáp ranh giữa hai xã Cẩm Minh, Cẩm Lạc hiện chỉ còn là dấu tích với một rạch nước nhỏ chảy ngoằn ngoèo, có nơi bị cạn trơ đáy hoặc nước chỉ đến đầu gối. Một số đoạn thậm chí đã bị lấp, biến thành ruộng lúa, bãi bồi trồng ngô, khoai, sắn…

Kênh nhà Lê chảy qua địa bàn xã Cẩm Minh dài khoảng 5 km, theo người dân ở đây cho biết trước lòng kênh khá rộng. Nhưng từ nhiều năm nay, kênh này đã bị bồi lấp, ít phục vụ cho công tác thủy lợi hoặc thoát nước cho những cánh đồng lúa lớn của xã Cẩm Minh do nguồn nước tưới cho khu vực này được dẫn từ thượng nguồn sông Rác, sông Trí bằng những con mương đã được bê tông hóa.



Ở xã Cẩm Lạc và Kỳ Phong, kênh nhà Lê vẫn còn tác dụng dẫn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp. Vào mùa khô hàng năm, khi nguồn nước trở nên khan hiếm, người dân hai xã này thường đặt nhiều máy bơm nước loại nhỏ dọc kênh nhà Lê vét nước từ lòng kênh, bơm tưới cho những ruộng lúa, ruộng hoa màu ở hai bên kênh. Người dân sống dọc hai bên kênh (đoạn giáp ranh giữa cửa Hải Khẩu, thuộc xã Kỳ Ninh và cửa vịnh Vũng Áng) vẫn đang sử dụng kênh để phục vụ vận chuyển nông sản và phục vụ sản xuất.


Người Kỳ Anh (tổng hợp)


Read More
Unknown

Di tích cổ kính đền Phương Giai thờ Hoàng giáp Dương Trí Tri



(Người Kỳ Anh) Tại xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh có một ngôi đền cổ kính đó là đền Phương Giai thờ Hoàng giáp Dương Trí Tri, một ông quan có tài và nhiều công lao to lớn trong việc bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân vào thời nhà Mạc. 


Tục truyền rằng vào thời đó tại vùng phía bắc huyện Kỳ Anh có dịch bệnh đậu mùa trẻ em ông Hoàng giáp chỉ có những vị thuốc Nam đã cứu được rất nhiều trẻ em thoát khỏi nạn dịch trở về cuộc sống. Với công lao đó sau khi ông mất nhân dân địa phương đã lập đền thờ.

Đền xây dựng trên diện tích một mẫu 5 sào Trung Bộ, cao hơn diện tích xung quanh 1, 5m ngoảnh mặt hướng đông bắc. Ngày xưa đền có 3 to à, kết cấu chữ Tam lợp ngói vẫy, có tường bao quanh. Ngày nay do chiến tranh và thiên nhiên tàn phá hệ thống tường, cột nanh, cổng tam quan, nhà Thượng điện bị phá huỷ, chỉ còn lại nhà Hạ điện và Trung điện. Kiến trúc các ngôi nhà đơn giản, theo lối truyền thống của nhân dân địa phương.

Đền ở làng Phương Giai, tổng Cấp Dẫn, nay là xã Kỳ Bắc, có ba toà thượng, trung, hạ đường xếp theo hình chữ “tam” xây trên khu vườn rộng khoảng 1 mẫu rưỡi, xung quanh cây cối xanh tốt. Đền Phương Giai thờ ông Dương Trí Tri (có sách chép Phùng Trí Tri), người xã Duy Liệt, sau là Liệt Thượng (nay là xã Kỳ Phú). Ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định đời Mạc Phúc Nguyên (1547), làm quan đến chức Hàn lâm, thường gọi “Quan Hoàng Liệt Thượng”.
     Ở địa phương có giai thoại: Sau khi ông đỗ, vua gả công chúa, ông không chịu lấy, nên vua bắt phải tự sát. Chuyện ấy chắc là những người nhà Lê bịa ra để nói xấu nhà Mạc, vì Đăng khoa lục chép là ông làm quan nhà Mạc đến chức Hàn lâm.
Sau khi ông mất, dân làng Phương Giai và một số làng khác dựng đền thờ. Tương truyền “Quan Hoàng” rất giỏi thuốc, ai đau ốm đến cầu Thần xin thuốc đều lành bệnh. Có lần, trong vùng có dịch đậu mùa, Thần cho thuốc chữa, nên không có ai chết…Về sau, dân trong vùng không nhớ tên Thần là gì, chỉ biết đền Phương Giai thờ ông thầy thuốc”.

Đền Phương Giai - nơi diễn ra Hội nghị thành lập Đảng bộ huyện Kỳ Anh

Đền Phương Giai ngoài ý nghĩa tâm linh, trong giai đoạn lịch sử hiện đại còn có ý nghĩa lịch sử cách mạng, đó là nơi diễn ra Đại hội thành lập Đảng bộ huyện Kỳ Anh và trụ sở UBND huyện Kỳ Anh trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Người Kỳ Anh


Read More