Unknown

Độc đáo chợ trâu bò vùng Thượng… Kỳ Anh




Sông Rào Trổ chảy xuôi chia đôi 2 xã Kỳ Lâm và Kỳ Sơn (Kỳ Anh). Ở đôi bờ con sông ấy có phiên chợ quê khá độc đáo. Độc đáo vì ngày họp chợ được tính theo lịch tây (dương lịch) chứ không phải lịch ta (âm lịch) như thông thường. Độc đáo vì ...




Vì cứ vào ngày 10, 25 hàng tháng thì chợ họp bên bờ sông của Kỳ Lâm, còn đến ngày 15, 30 thì chuyển về bên bờ sông của Kỳ Sơn. Chợ chỉ mua – bán mỗi trâu, bò…

Từ sáng sớm, ông Bảng – người ông bên nhà vợ, từ Hà Nội về cưới cháu trai, đã giục tôi dậy sớm để ra chợ. Trời vẫn đang se lạnh. Trên bàn thờ phía trong nhà vẫn còn 3 cây hương cháy dở. Lòng tôi chợt chùng xuống trong niềm xúc động, bởi tôi biết ông đang nhớ về bố vợ tôi – một “lái” trâu, bò có tiếng đã mất vì bạo bệnh, cũng như đang nhớ về những phiên chợ ngày xưa, nơi ông nhiều lần theo chân bố mẹ ra chợ mua trâu, bò…
Chợ trâu bò vùng Thượng…

Chợ trâu nằm ngay dưới chân cầu Rào Trổ, trên một khoảnh đất trống bên quốc lộ 12

Hai ông cháu men theo con đường đất đỏ, vòng dưới chân cầu Rào Trổ để lên chợ. Cậu Kỳ – em mẹ vợ tôi, cũng là một người con Kỳ Sơn làm ăn xa xứ cùng đi. Trong niềm háo hức tột độ, cả 3 chúng tôi đi lẫn vào giữa cơ man trâu, bò. Giữa những ông trâu sừng cong như lưỡi kiếm, đang nghếch đầu nghênh nghênh với ả trâu bên cạnh là những chú nghé mới 5-7 tháng tuổi, hình như vẫn còn ngái ngủ, đang rúc đầu vào bụng mẹ… Cả khu chợ rộn ràng trong tiếng người trao đổi, tiếng trâu, bò ậm ò huyên náo một khúc sông.

Chợ nằm ngay dưới chân cầu Rào Trổ, trên một khoảnh đất trống bên quốc lộ 12. Không ai biết chính xác chợ này mở phiên đầu tiên vào thời gian nào, nhưng theo các cụ cao niên ở Kỳ Sơn thì ngay từ nhỏ, các cụ đã biết mỗi tháng có 4 phiên họp chợ trâu, bò vào các ngày 10, 15, 25, 30 dương lịch. Không kém phần ồn ào và náo nhiệt, nhưng chợ ở đây lại có phần đặc sắc hơn phiên chợ trâu bò ở chợ Nhe (Can Lộc). Bởi nơi đây vẫn còn lưu giữ nguyên sơ bản sắc văn hóa vùng miền, hội tụ đầy đủ những nét sinh hoạt đặc sắc của người dân các xã vùng thượng Kỳ Anh. Người vào chợ không cần mua vé, người bán trâu, bò cũng chẳng cần nộp lệ phí chợ. Có chăng là thủ tục viết giấy chứng nhận mua bán trâu, bò sau mỗi giao dịch thành công, với lệ phí phải đóng là 20.000 đồng. Nếu để ý kỹ, rất dễ nhận ra người dắt trâu từ vùng sâu Kỳ Thượng ra, người lùa bò từ vùng cao Kỳ Tây, Kỳ Hợp xuống… Không lẫn vào đâu được, nhưng những “lái” trâu, bò có tiếng nơi đây thì hình như chỉ có người bản địa. Dẫu rằng, vẫn gặp đôi ba khuôn mặt quen thuộc từ chợ Nhe vào, hay từ Đồng Lê (Quảng Bình) sang, nhưng rồi họ vẫn quần tụ bên những “lái” bản địa như “lái” Toàn, “lái” Dương…

Không khó để tìm gặp “lái” Dương, bởi trước đó người nhà đã nói sơ qua cho tôi biết. Dương sinh năm 1985, tuổi trâu, lại là “truyền nhân” của người bố từng là “một cặp bài trùng” buôn bò khét tiếng với bố vợ tôi, nên Dương rất “vượng” về cung đường… buôn bán trâu, bò. Hơn ai hết, chỉ nhìn qua con trâu, con bò vừa bước vào bãi chợ là Dương có thể đọc vanh vách con này ăn hay, cày khỏe; hay con kia chỉ để… làm thịt vì có tướng phản chủ. Đang lân la hỏi chuyện thì có người đàn ông dắt con trâu mộng vào bãi, có người lại thì thầm to nhỏ với Dương. Nhìn một lượt từ đầu đến chân trâu, như không cần giữ ý tứ, Dương phát giá “35 thì bỏ, 33 cầm thừng, không thì dắt ra kia”. Tôi chưa hiểu chuyện gì thì người dắt trâu đi bán lại nói với Dương: “Chú mi xem lại, chứ con này anh không muốn đưa ra chợ đâu. Đứa con gái lớn vừa tốt nghiệp đại học xong, anh mới phải bán để lo việc cho con. Chứ 35 triệu là giá hời rồi, 33 triệu anh bán răng được”.



Chợ trâu bò vùng Thượng…Kỳ Anh

Nếu để ý kỹ, rất dễ nhận ra người dắt trâu từ vùng sâu Kỳ Thượng ra, người lùa bò từ vùng cao Kỳ Tây, Kỳ Hợp xuống…

Dương không nói, không rằng, rít một hơi thuốc rồi… đi thẳng lại quán ăn dã chiến ngay trên bãi. Dương nói thẳng tưng với tôi: “Con trâu đó không qua tay em thì chẳng ai dám rước. Trâu đẹp! 35 triệu đúng giá, nhưng em xuống giá tý để kiếm thêm, chứ từ sáng đến giờ quay vòng 5 con rồi, nhưng chưa ăn thua”. Chúng tôi vào quán ăn vội bát cháo lòng, thấy Dương cứ cắm cúi ăn, như không để ý gì đến xung quanh. Chỉ một lát sau, người đàn ông bán trâu đi lại, kêu Dương ra và chốt giá 34 triệu. Cả hai cùng cười, “tiền trao, trâu dắt”!

Chúng tôi lân la hỏi chuyện 2 cán bộ tư pháp và thú y của xã Kỳ Sơn đang ngồi làm thủ tục trên cái chòi ở chỗ cao nhất bãi chợ. Được biết, từ sáng đến giờ đã viết giấy, làm thủ tục sang tên, đổi chủ cho… 12 chú trâu, bò. Theo các anh, lượng trâu, bò họp chợ bình quân 250-300 con, giao dịch mua bán cũng xấp xỉ 50-70 con mỗi phiên, nhưng số người lại làm thủ tục sang tên, đổi chủ cho trâu, bò chỉ chiếm một phần nhỏ, vì nếu người mua, người bán mà tin nhau, cùng làng, cùng xã thì hầu hết không cần viết giấy. Như vậy, cùng với việc trâu, bò vào chợ không phải mua vé, nộp lệ phí, thì các giao dịch mua, bán diễn ra trong phiên chợ này đang được đơn giản đến mức tối đa, tạo điều kiện thuận lợi cho cả người bán lẫn người mua, chính quyền chỉ giữ vai trò kiểm soát dịch bệnh và làm thủ tục khi có yêu cầu.

Tầm 10h, khi cái nắng hắt lên từ mặt sông từng tia sáng chói mắt, phiên chợ cũng bắt đầu vãn. Từng đoàn người không bán được trâu, bò lại dắt về chờ phiên sau, để lại nơi góc chợ một vài nhóm người tụm năm, tụm bảy, nâng ly bàn tán về cuộc ngả giá thành công. Chợt thấy sắc mặt cô chủ quán hồng hồng… Chắc phiên chợ này đắt khách?

Bùi Tiến – Nhật Quang
 Người Kỳ Anh



Read More
Unknown

Dân ca ví giặm đằm thắm nghĩa tình trên quê hương Kỳ Anh



Tình yêu Tổ quốc trước hết được bắt nguồn từ tình yêu tha thiết khúc hát dân ca. Ngày nay, dân ca ví Giặm Nghệ Tĩnh đã đuợc UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Đó là minh chứng thể hiện sự trường tồn, sức sống mãnh liệt của làn điệu Ví, Giặm trong tâm hồn mỗi người dân trên mảnh đất Nghệ An - Hà Tĩnh.


Với hai lối hát dân ca không nhạc đệm, xuất hiện đã hàng trăm năm, được cư dân Nghệ Tĩnh sáng tạo ra trong quá trình lao động, sản xuất, sinh hoạt đời thường.

 Dân ca ví Giặm đang được bảo tồn và phát triển trên quê hương Kỳ Anh
Nhằm  bảo tồn và phát triển các làn điệu dân ca ví Giặm Nghệ Tĩnh, thời gian qua, huyện Kỳ Anh đã đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát triển các câu lạc bộ dân ca ví Giặm. Đến thời điểm này, 100 %  Trường Tiểu học ở huyện Kỳ Anh đã thành lập được câu lạc bộ dân ca ví Giặm. Riêng ở các xã cũng thành lập được 10 Câu lạc bộ dân ca ví Giặm xã Kỳ Xuân, Kỳ Phú, Kỳ Đồng…. Để dân ca ví Giặm ăn sâu trong tiềm thức của mỗi người dân, những khi sinh hoạt hay hội diễn văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ dân ca ví Giặm ở huyện Kỳ Anh đã mang đến cho người xem nhiều tiết mục dân ca với nội dung phong phú như; Hát giao duyên, ví đò đưa, hát đối đáp, hát ví o Nhẫn… và cả các làn điệu gốc và làn điệu cải biên đều được sưu tầm với nội dung chủ đề ca ngợi Đảng, bác Hồ, tinh thần lao động, tình yêu cuộc sống, quê hương đất nước, con người mang đậm bản sắc xứ Nghệ, thu hút đông đảo nhân dân đến xem, cổ vũ.  Trong số đó, nhiều làn điệu dân ca đậm đà bản sắc ấy lại thể hiện những đặc trưng riêng của các vùng quê ở huyện Kỳ Anh. Giờ đây, dân ca ví Giặm ngày càng được đưa đến với công chúng nhiều hơn qua các hội diễn, liên hoan văn nghệ quần chúng. Trong đó, nhiều tiết mục dân ca ví Giặm được các câu lạc bộ trên địa bàn huyện Kỳ Anh dàn dựng công phu từ nội dung, đến cách thể hiện mang lại nhiều ấn tượng cho khán giả,  sâu lắng, miệt mài đằm thắm qua các hội diễn dân ca ví dặm mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.


Ảnh: Các địa phương ở huyện Kỳ Anh đã thành lập các Câu lạc bộ nhằm bảo tồn và phát triển dân ca ví Giặm Nghệ Tĩnh.
Để dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh trở về với cội nguồn của nó, mỗi chúng ta cần phải bảo tồn và khôi phục các không gian trình diễn dân gian trong các địa bàn dân cư, làng xóm, để nhân dân lao động thực sự là chủ thể sáng tạo và thưởng thức vẻ đẹp âm nhạc độc đáo, đằm thắm, trữ tình vốn có của  dân ca ví Giặm Nghệ Tĩnh. Đồng thời, khuyến khích sáng tác lời mới cho dân ca Ví, Giặm với  các tác phẩm âm nhạc mới trên nền dân ca Nghệ Tĩnh ca ngợi đất nước, quê hương, cuộc sống đang từng ngày đổi mới.

Đưa Dân ca Ví giặm vào các trường Mầm non ở Kỳ Anh
Giờ đây, dân ca Ví giặm được  các trường Mầm non trên địa bàn huyện Kỳ Anh đưa vào giảng dạy. Qua những làn điệu dân ca Ví giặm Nghệ Tĩnh và các trò chơi dân gian góp phần bồi đắp tâm hồn cho trẻ thơ ngay từ thời thơ ấu. Ấn tượng và sâu lắng những đó là những gì diễn ra qua hội thi “ Bé yêu làn điệu dân ca và trò chơi dân gian năm học 2015- 2016” ở các trường Mầm non trên địa bàn toàn huyện.



Dân ca ví Giặm nuôi dưỡng tâm hồn cho trẻ thơ.

Đi đầu trong phong trào đưa dân ca Ví Dặm vào trường học ở huyện Kỳ Anh tiêu biểu như Trường Mầm non Kỳ Xuân. Là ngôi trường nằm ở vùng bãi ngang ven biển, nơi còn gặp nhiều khó khăn về trường lớp, cơ sở vật chất song ban giám hiệu nhà trường đã  quan tâm đầu tư đưa dân ca ví dặm vào giảng dạy trong nhà trường. Để dân ca ví dặm trở thành 1 hoạt động giảng dạy thường xuyên

Có thể nói, Dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh là loại hình nghệ thuật độc đáo, được sáng tạo lưu truyền trong quá trình lao động, sản xuất, sinh hoạt gắn với không gian quen thuộc như ruộng đồng, đồi núi. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, loại hình nghệ thuật đã bồi đắp tâm hồn, nuôi dưỡng tinh thần con người xứ Nghệ, trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, với việc đưa dân ca ví dặm đưa vào các trường học mầm non sẽ giáo dục truyền thống vào giáo dục cho các cháu thiếu nhi các làn điệu dân ca của các vùng miền để từ đó chúng ta luôn tự hào, giáo dục nhân cách sống và phấn đấu vươn lên trong học tập.
Mạnh Hải
Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Đền Bản Thổ - Kỳ Ninh, lưu giữ 13 đạo sắc phong cổ



Tại đền Bản Thổ thuộc phường Kỳ Ninh, thị xã Kỳ Anh hiện đang lưu giữ 13 đạo sắc cổ thời Nguyễn phong cho các vị nhiên thần, nhân thần được nhân dân địa phương thờ phụng.



Sắc phong làm từ giấy dó màu vàng sẫm với nhiều họa tiết rồng mây, kích thước loại 0.4m x 1.0m và loại 0.4m x 1.2m. Nhờ được bảo quản tốt, các sắc phong còn khá nguyên vẹn, chữ rõ nét. Trong số 13 đạo sắc có 02 đạo của vua Tự Đức, 01 đạo của vua Đồng Khánh, 03 đạo của vua Thành Thái, 01 đạo của vua Duy Tân và 06 đạo của vua Khải Định. Sắc phong được ban sớm nhất vào năm Tự Đức thứ 6 (1853) và muộn nhất vào năm Khải Định thứ 9 (1924).Các đạo sắc có nội dung phong thần, ban tặng mỹ tự, thăng trật của nhà vua cho các các vị thần: Bản Cảnh thành hoàng, Nam Hải cự tộc ngọc lân (Cá Ông), Tam Tòa Đại vương (Lý Nhật Quang) và Hộ quốc Thượng tướng quân Đô đốc Điện quận công (Phạm Hoành).

Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Thành luỹ cổ độc đáo bậc nhất Bắc Trung Bộ còn nguyên vẹn trên đỉnh Đèo Bột - Kỳ Anh

[Đang biên tập]
Hệ thống thành luỹ cổ bằng đá vừa được phát hiện tại đỉnh Đèo Bụt, thuộc dãy núi Hoành Sơn (Hà Tĩnh). Nhiều nhà khoa học khẳng định, đây là công trình kiến trúc cổ giá trị, độc đáo bậc nhất Bắc Trung bộ còn nguyên vẹn.


Ông Lê Bá Hạnh, Phó GĐ Bảo tàng Hà Tĩnh cho biết, hệ thống thành lũy này được ghép bằnh những viên đá đã được cắt gọt, vuông vức theo phương thẳng đứng. Độ cao của thành lũy hơn 3m, phía mặt trên thành khá bằng phẳng, nơi rộng nhất khoảng 2m và hẹp nhất từ 1,2 – 1,5m. Hệ thống thành lũy bằng đá này nằm về phía Bắc của dãy Hoành Sơn Quan theo trục Đông – Tây, mặt trước thành hướng về phía Nam, chiều dài ước tính hàng chục kilômét và khả năng còn kéo đến tận địa phận tỉnh Quảng Bình. Hiện mới chỉ phát hiện được một đoạn thành lũy còn khá nguyên vẹn dài khoảng 500m.

Theo chiều dài của thân thành lũy cứ cách nhau khoảng 3-4m lại được trổ hỏa hiệu kiểu dạng hình phễu, mặt trước to, mặt sau thu nhỏ lại, khả năng khi xây dựng công dụng của thành là vừa để thoát nước vừa quan sát đánh trả kẻ địch lúc công phá thành.
Ở vị trí đặt hỏa hiệu hai bên có xây bậc theo kiểu tam cấp cho quân lính lên xuống thành lũy thuận tiện, đồng thời có địa điểm để tập kết quân lính được đào sâu dưới chân thành về phía Bắc gọi là hộc đóng quân, có kích thước hình vuông mỗi chiều dài từ 4,5-5m…
Ông Hồ Bách Khoa, Trưởng ban quản lý Khu di tích đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, một trong những người đầu tiên phát hiện ra hệ thống thành lũy bằng đá cổ này cho biết, trước đó vào khoảng năm 1993 sau hàng chục lần lên khu vực đèo Bụt và cả vùng rừng núi Hoành Sơn tìm kiếm đã phát hiện ra được hệ thống thành lũy đá cổ này. Theo ý kiến bước đầu của một số nhà nghiên cứu văn hóa, di sản, rất có khả năng hệ thống thành lũy đá cổ này là dấu tích còn lại trong hệ thống thành lũy cổ của vương quốc Lâm Ấp (thời kỳ Đại Việt – Champa) với chiều dài trên 30km do vương quốc Lâm Ấp xây dựng dựa vào dãy Hoành Sơn, với mục đích phòng thủ bảo vệ biên giới… Đến giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh thì hệ thống thành lũy đá cổ này mới tiếp tục được chúa Trịnh Toàn củng cố thêm, cho nên người dân địa phương vẫn còn gọi là lũy Ông Ninh (Ninh Quận công – Trịnh Toàn). “Đây là một hệ thống công trình thành lũy cổ bằng đá rất độc đáo, được xây dựng với kỹ thuật kiến trúc bậc cao, có giá trị văn hóa, lịch sử và có ý nghĩa rất quan trọng”, ông Hạnh nói thêm.
Ông Lê Văn Cương (67 tuổi, nhà ở xóm Lạc Thắng, xã Kỳ Lạc) cho biết “Thành lũy đá cổ này được xây từ lâu lắm. Từ đời cố tôi đã thấy có rồi. Đặc biệt, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, đây còn là nơi hành quân, trú ẩn, chiến đấu an toàn của quân và dân ta”.Cùng chiêm ngưỡng hình ảnh thành luỹ cổ
Read More
Unknown

Về Kỳ Anh thăm biển Kỳ Xuân (Hà Tĩnh)



Biển Kỳ Xuân là bãi biển thuộc địa phận của ba thôn Thắng Lợi, Nguyễn Huệ và Xuân Phú. Bãi biển có chiều dài gần 13km. Tuy vậy ngư dân nơi đây chỉ chiến 30% còn đa phần là nông dân chiếm tới 70%. Xã Kỳ Xuân là xã vùng ngoài huyện Kỳ Anh. Đây là một địa điểm mà những người con Kỳ Anh xa quê và cả khách du lịch ghé đến.



Nếu bạn đi từ quốc lộ 1A thì tới biển Kỳ Xuân khoảng cách chỉ là 5km và mất chừng 10 phút đi xe máy, đường ở đây được làm bê tong nên trông cũng khá sạch đẹp và thoáng đãng, làn đường đủ rộng cho hai làn ô tô tránh nhau. Phía sau bãi biển là những ngọn núi nguyên sinh và khu vực rừng phòng hộ dùng để che chắn sóng biển gió bão, những ngôi làng chài cạnh bờ biển đã tạo nên một cảnh đẹp thiên nhiên thú vị nơi đây.






Cũng là môt bãi biển vẫn còn giữ được vẻ hoang sơ của biển, nước biển còn rất trong xanh và những bãi cát trải dài trắng mịn. Mỗi du khách tới đây đều thấy hấp dẫn bởi những rặng phi lao được trồng quanh mép nước biển. Biển Kỳ Xuân ngoài sở hữu những bãi tắm với khung cảnh đẹp còn sở hữu hai danh thắng khác thực sự tạo nên cảm giác đặc biệt và trọn vẹn.


Kỳ Xuân ngoài vẻ đẹp hoang sơ của bạn còn được nhiều du khách biết đến bởi những đặc sản biển mà không phải bãi biển nào cũng có. Đó là những loại chim Cu Kỳ, Cụp, những loại tôm hùm… là những loại đặc sản mà chỉ Kỳ Xuân mới có. Mặc dù chính quyền địa phương nơi đây chưa khai thác thế mạnh du lịch nhưng cứ đến mùa hè thì những du khách đều tìm tới đây như một thói quen của họ.

Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Dấu tích kênh nhà Lê tại Hà Tĩnh đoạn qua Kỳ Anh


(Người Kỳ Anh) Kênh đào nhà Lê được làm từ thời vua Lê Hoàn vào năm 983, trải qua nhiều thế kỷ, hiện nay một số đoạn kênh tại Hà Tĩnh vẫn còn nguyên vẹn, khung cảnh rất đẹp.



Kênh nhà Lê được xây dựng từ thời vua Lê Đại Hành, hoàn thiện từ thời vua Lê Lợi, kéo dài từ Ninh Bình tới Hà Tĩnh. Tại Hà Tĩnh, nơi bắt nguồn kênh nhà Lê nằm ở ngã ba Sông Lam, nối giữa xã Đức Vĩnh (huyện Đức Thọ) và huyện Hưng Nguyên (Nghệ An). Đoạn kênh qua địa phận Hà Tĩnh sâu khoảng 3-5 m, rộng trung bình 10 m, dài hơn 100 km, chảy quanh co qua làng mạc của các huyện Đức Thọ, Hồng Lĩnh, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, thị xã Kỳ Anh rồi đổ ra biển.

Thời vua Lê Đại Hành, hệ thống kênh đào cổ này dùng để vận tải quân lương về phía Nam Đại Cồ Việt nhằm mở rộng lãnh thổ phía Nam và phát triển kinh tế nông nghiệp nước nhà. Kênh được xem là tuyến đường thủy nội địa từ kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình), nối liền các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Đến thời Lý, Trần, kênh là đường quân sự để chiến thuyền đi đánh quân xâm lược; tới thời vua Lê Lợi, hệ thống kênh đào được hoàn chỉnh.



Theo sử sách, để đào kênh, nhà vua đã ra sắc chỉ. Địa phương nào nhận được chỉ thị thì phải huy động người dân tới làm, qua thời gian, các thế hệ cứ thế nối tiếp bồi đắp, nạo vét để giao thương đi lại buôn bán. Ông Lê Bá Hạnh, Phó giám đốc Bảo tàng Hà Tĩnh cho biết, trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ những lùm cây cối um tùm ở nhiều đoạn kênh nhà Lê tại Hà Tĩnh thường được dùng để giấu khí tài, đạn dược giúp tiền tuyến đánh giặc. Đây cũng là nơi lưu dấu ấn của vua Lê Lợi trong thời gian lập căn cứ Đỗ Gia (chống quân Minh).


Một số nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa cho hay, kênh đào nhà Lê là tổng hòa của mọi tác dụng từ kinh tế tới quân sự, là nơi kết nối với mọi miền đất nước. "Những dấu tích, hiện trạng nguyên vẹn của kênh nhà Lê cần được bảo tồn để thế hệ sau biết được giá trị của một công trình ghi dấu ấn lịch sử, tồn tại qua nhiều thế kỷ và hiểu rõ truyền thống hào hùng của cha ông"

Đoạn sông Nhà Lê phía nam Hà Tĩnh là đoạn cuối cùng mang tên sông Nhà Lê, nó khởi đầu từ sông Rác tại xã Cẩm Lạc, Cẩm Xuyên chảy qua xã Cẩm Minh rồi đi vào huyện Kỳ Anh (qua các xã: Kỳ Phong, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Đồng, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh rồi đổ ra biển tại cửa khẩu vịnh Vũng Áng. Khu vực này nằm sát chân Đèo Ngang, vốn là ranh giới giữa Đại Cồ Việt và Chiêm Thành thời Tiền Lê.



Ông Thái Kim Đỉnh, nhà nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, địa chí Hà Tĩnh cho rằng, kênh nhà Lê đoạn phía nam của Hà Tĩnh là kênh đào cổ xưa, dài khoảng 35 km, rộng trung bình từ 15-20 m, có đoạn rộng từ 25-30 m, là hệ thống những đoạn kênh đào nối với các sông tự nhiên đã có sẵn. Kênh được khởi đào từ thời Tiền Lê với mục đích quân sự. Sau đó, trải qua các triều đại phong kiến khác, kênh nhà Lê ở phía nam Hà Tĩnh được đào, nắn thẳng và khơi sâu thêm nhằm phục vụ cho mục đích quân sự, giao thương giữa các vùng miền Hà Tĩnh với nhau và giữa Hà Tĩnh với các tỉnh phía bắc.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Giáp Dần năm Long Khánh thứ 2, đời vua Trần Duệ Tông (1374), tháng 3 xuống chiếu cho Thanh Hóa, Nghệ An đào kênh đến cửa biển Hà Hoa” (Vũng Áng). Theo nhà nghiên cứu Đào Tam Tỉnh, đó là hệ thống những kênh đào nối sông Đáy ở cửa Thần Phù với các sông tự nhiên khác. Trước đó, thuyền bè từ bắc vào đến phía nam Hà Tĩnh phải đi ra cửa Nhượng Bạn (cửa sông Rác, thuộc xã Cẩm Nhượng hiện nay) để ra biển rồi mới vào châu Ô, châu Lý. Để tránh bớt nguy hiểm từ việc phải đi đường biển quá xa, vua Trần Duệ Tông đã sai đào sông cho thông vào đến Cửa Khẩu (Vũng Áng), tránh được đoạn đường biển nguy hiểm này. Sau khi kênh được đào thông từ sông Rác vào Cửa Khẩu, năm 1377, đoàn chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông đã sử dụng con kênh này.

Cửa biển này từng ghi dấu nhiều sự kiện của đất nước, đặc biệt là các sự kiện liên quan đến các cuộc xung đột giữa Đại Việt và Chiêm Thành, Trịnh - Nguyễn. Nhiều vua chúa, đại thần các triều đình trên đường nam chinh từng dừng chân tại cửa biển để vãn cảnh, làm thơ hoặc chọn nơi này xây dựng căn cứ để chống kẻ thù. Hiện nay, đây là cảng biển quy mô gắn liền với khu kinh tế Vũng Áng thu hút được nhiều dự án công nghiệp lớn.



Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, bộ đội Việt Nam đã lợi dụng kênh nhà Lê để vận chuyển lương thực, vũ khí từ các huyện Thạch Hà, Can Lộc, Nghi Xuân… vào vùng chiến lược đèo Ngang. Bên cạnh đó, lợi dụng vào hướng chảy, sự giao thoa của kênh nhà Lê với hệ thống sông, suối tự nhiên vùng giáp ranh với tỉnh Quảng Bình, những năm 1967-1970, bộ đội Việt Nam đã đưa lương thực, vũ khí từ miền Bắc theo đường biển vào cửa vịnh Vũng Áng, ngược lên các huyện miền núi phía bắc Quảng Bình rồi sau đó đưa vào chiến trường Quảng Trị, Khu 5.

Nguy cơ thành kênh lấp

Qua quá trình bồi lấp tự nhiên cộng với tác động bởi bàn tay con người và không được nạo vét nên hiện nay, kênh nhà Lê ở đoạn cuối này đã bị nắn dòng chảy, nhiều đoạn không còn thông dòng như trước. Điểm rộng nhất của kênh nhà Lê ở phía nam Hà Tĩnh khoảng hơn 30 m, sâu 12 m thuộc đoạn gần cửa Hải Khẩu, xã Kỳ Ninh và cửa vịnh Vũng Áng. Nhưng có nhiều điểm hiện còn rất hẹp, chỉ từ 3-4 m. Thậm chí, kênh nhà Lê tại điểm giáp ranh giữa hai xã Cẩm Minh, Cẩm Lạc hiện chỉ còn là dấu tích với một rạch nước nhỏ chảy ngoằn ngoèo, có nơi bị cạn trơ đáy hoặc nước chỉ đến đầu gối. Một số đoạn thậm chí đã bị lấp, biến thành ruộng lúa, bãi bồi trồng ngô, khoai, sắn…

Kênh nhà Lê chảy qua địa bàn xã Cẩm Minh dài khoảng 5 km, theo người dân ở đây cho biết trước lòng kênh khá rộng. Nhưng từ nhiều năm nay, kênh này đã bị bồi lấp, ít phục vụ cho công tác thủy lợi hoặc thoát nước cho những cánh đồng lúa lớn của xã Cẩm Minh do nguồn nước tưới cho khu vực này được dẫn từ thượng nguồn sông Rác, sông Trí bằng những con mương đã được bê tông hóa.



Ở xã Cẩm Lạc và Kỳ Phong, kênh nhà Lê vẫn còn tác dụng dẫn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp. Vào mùa khô hàng năm, khi nguồn nước trở nên khan hiếm, người dân hai xã này thường đặt nhiều máy bơm nước loại nhỏ dọc kênh nhà Lê vét nước từ lòng kênh, bơm tưới cho những ruộng lúa, ruộng hoa màu ở hai bên kênh. Người dân sống dọc hai bên kênh (đoạn giáp ranh giữa cửa Hải Khẩu, thuộc xã Kỳ Ninh và cửa vịnh Vũng Áng) vẫn đang sử dụng kênh để phục vụ vận chuyển nông sản và phục vụ sản xuất.


Người Kỳ Anh (tổng hợp)


Read More
Unknown

Di tích cổ kính đền Phương Giai thờ Hoàng giáp Dương Trí Tri



(Người Kỳ Anh) Tại xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh có một ngôi đền cổ kính đó là đền Phương Giai thờ Hoàng giáp Dương Trí Tri, một ông quan có tài và nhiều công lao to lớn trong việc bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân vào thời nhà Mạc. 


Tục truyền rằng vào thời đó tại vùng phía bắc huyện Kỳ Anh có dịch bệnh đậu mùa trẻ em ông Hoàng giáp chỉ có những vị thuốc Nam đã cứu được rất nhiều trẻ em thoát khỏi nạn dịch trở về cuộc sống. Với công lao đó sau khi ông mất nhân dân địa phương đã lập đền thờ.

Đền xây dựng trên diện tích một mẫu 5 sào Trung Bộ, cao hơn diện tích xung quanh 1, 5m ngoảnh mặt hướng đông bắc. Ngày xưa đền có 3 to à, kết cấu chữ Tam lợp ngói vẫy, có tường bao quanh. Ngày nay do chiến tranh và thiên nhiên tàn phá hệ thống tường, cột nanh, cổng tam quan, nhà Thượng điện bị phá huỷ, chỉ còn lại nhà Hạ điện và Trung điện. Kiến trúc các ngôi nhà đơn giản, theo lối truyền thống của nhân dân địa phương.

Đền ở làng Phương Giai, tổng Cấp Dẫn, nay là xã Kỳ Bắc, có ba toà thượng, trung, hạ đường xếp theo hình chữ “tam” xây trên khu vườn rộng khoảng 1 mẫu rưỡi, xung quanh cây cối xanh tốt. Đền Phương Giai thờ ông Dương Trí Tri (có sách chép Phùng Trí Tri), người xã Duy Liệt, sau là Liệt Thượng (nay là xã Kỳ Phú). Ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định đời Mạc Phúc Nguyên (1547), làm quan đến chức Hàn lâm, thường gọi “Quan Hoàng Liệt Thượng”.
     Ở địa phương có giai thoại: Sau khi ông đỗ, vua gả công chúa, ông không chịu lấy, nên vua bắt phải tự sát. Chuyện ấy chắc là những người nhà Lê bịa ra để nói xấu nhà Mạc, vì Đăng khoa lục chép là ông làm quan nhà Mạc đến chức Hàn lâm.
Sau khi ông mất, dân làng Phương Giai và một số làng khác dựng đền thờ. Tương truyền “Quan Hoàng” rất giỏi thuốc, ai đau ốm đến cầu Thần xin thuốc đều lành bệnh. Có lần, trong vùng có dịch đậu mùa, Thần cho thuốc chữa, nên không có ai chết…Về sau, dân trong vùng không nhớ tên Thần là gì, chỉ biết đền Phương Giai thờ ông thầy thuốc”.

Đền Phương Giai - nơi diễn ra Hội nghị thành lập Đảng bộ huyện Kỳ Anh

Đền Phương Giai ngoài ý nghĩa tâm linh, trong giai đoạn lịch sử hiện đại còn có ý nghĩa lịch sử cách mạng, đó là nơi diễn ra Đại hội thành lập Đảng bộ huyện Kỳ Anh và trụ sở UBND huyện Kỳ Anh trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Đền Phương Giai trên Người Kỳ Anh đươc đưa lên Wikipedia



1.    Tên di tích: Đền thờ Phương Giai
2.    Loại công trình: Đền
3.   Loại di tích: Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật
4.    Quyết định: Đã xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 3211-QĐ/BT  ngày 12 tháng 12 năm 1994
5.    Địa chỉ: xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

6.    Tóm lược thông tin về di tích.
       Đền ở làng Phương Giai, tổng Cấp Dẫn, nay là xã Kỳ Bắc, có ba toà thượng, trung, hạ đường xếp theo hình chữ “tam” xây trên khu vườn rộng khoảng 1 mẫu rưỡi, xung quanh cây cối xanh tốt.
Đền Phương Giai thờ Hoàng giáp Dương Trí Tri, một ông quan có tài và nhiều công lao to lớn trong việc bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân vào thời nhà Mạc. Tục truyền rằng vào thời đó tại vùng phía bắc huyện Kỳ Anh có dịch bệnh đậu mùa trẻ em , ông Hoàng giáp chỉ có những vị thuốc Nam đã cứu được rất nhiều trẻ em thoát khỏi nạn dịch trở về cuộc sống. Ông được suy tôn Thành Hoàng Làng. Với công lao đó sau khi ông mất nhân dân địa phương đã lập đền thờ.
Ông Dương Trí Tri (có sách chép Phùng Trí Tri), người xã Duy Liệt, sau là Liệt Thượng (nay là xã Kỳ Phú). Ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định đời Mạc Phúc Nguyên (1547), làm quan đến chức Hàn lâm, thường gọi “Quan Hoàng Liệt Thượng”.

Ở địa phương có giai thoại: Sau khi ông đỗ, vua gả công chúa, ông không chịu lấy, nên vua bắt phải tự sát. Chuyện ấy chắc là những người nhà Lê bịa ra để nói xấu nhà Mạc, vì Đăng khoa lục chép là ông làm quan nhà Mạc đến chức Hàn lâm.

Sau khi ông mất, dân làng Phương Giai và một số làng khác dựng đền thờ. Tương truyền “Quan Hoàng” rất giỏi thuốc, ai đau ốm đến cầu Thần xin thuốc đều lành bệnh. Có lần, trong vùng có dịch đậu mùa, Thần cho thuốc chữa, nên không có ai chết…Về sau, dân trong vùng không nhớ tên Thần là gì, chỉ biết đền Phương Giai thờ ông thầy thuốc”.

- Đền xây dựng trên diện tích một mẫu 5 sào Trung Bộ, cao hơn diện tích xung quanh 1,5m ngoảnh mặt hướng đông bắc. Ngày xưa đền có ba tòa, kết cấu chữ Tam lợp ngói vẫy, có tường bao quanh. Ngày nay do chiến tranh và thiên nhiên tàn phá hệ thống tường, cột nanh, cổng tam quan, nhà Thượng điện bị phá huỷ, chỉ còn lại nhà Hạ điện và Trung điện. Kiến trúc các ngôi nhà đơn giản, theo lối truyền thống của nhân dân địa phương.

Đền Phương Giai ngoài ý nghĩa tâm linh, trong giai đoạn lịch sử hiện đại còn có ý nghĩa lịch sử cách mạng, đó là nơi diễn ra Đại hội thành lập Đảng bộ huyện Kỳ Anh và trụ sở UBND huyện Kỳ Anh trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Năm 1930 đền là nơi hoạt động bí mật của Đảng cộng sản, là nơi chi bộ Đảng bộ kỳ Anh thành lập và bầu ra ban chấp hành Đảng bộ gồm 7 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Tiến Liên làm bí thư. Đại  hội đã vạch ra cương lĩnh hoạt động, nhằm phát triển Đảng viên và giải phóng nhân dân, tại đây là điểm xuất phát của nhân dân vùng ngoài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng đã bình tĩnh cướp được huyện lị Kỳ Anh năm 1930. Trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ nơi đây nhiều lần tổ chức hội họp của Đảng, nơi cất giữ nhiều tài liệu bí mật của Đảng.

Trong thời kỳ chống Pháp và Mỹ đền thờ Phương Giai là nơi làm trụ sở cho UBND Xã, nơi dãy bổ túc văn hóa cho nhân dân trong bình dân học vụ. Đầu thế kỷ XX, dân trong làng giác ngộ cao, đền lại kín đáo, dễ bố trí việc canh phòng, bảo đảm bí mật, an toàn, nên các đảng viên Tân Việt và Cộng sản đều lấy đền Phương Giai làm nơi lui tới, gặp gỡ, bàn bạc công việc. Trong hai ngày 4 và 5 tháng 6 năm 1930, đền Phương Giai là nơi được chọn làm địa điểm họp Hội nghị thành lập Đảng bộ Đảng cộng sản huyện Kỳ Anh, bầu Ban huyện uỷ 7 người, do ông Nguyễn Tiến Liên làm Bí thư (Theo “Lịch sử Đảng bộ huyện Kỳ Anh” XB. 6/2003). Năm 1994, được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp bằng di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia. Hiện nay đền Phương Giai được tôn tạo thành một di tích vừa có ý nghĩa lịch sử vừa có ý nghĩa cách mạng.

Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Dạo bước Hoành Sơn trên quần thể danh thắng đèo Ngang



(Người Kỳ Anh) Xuôi theo Quốc lộ 1A qua địa phận Hà Tĩnh, cảnh sắc thay đổi đột ngột bởi một dãy núi cao cắt ngang hình thái địa lý bằng phẳng và xuôi chiều theo hướng Bắc - Nam vốn rất quen thuộc ở vùng đất duyên hải Bắc Trung bộ.
  

Dãy Hoành Sơn là một phần của dải Trường Sơn hùng vĩ đột ngột xoay ngang như một lưỡi kiếm chém thẳng ra biển. Cũng chính dãy núi cắt ngang đột ngột này đã tạo nên phần ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh - Quảng Bình. Đây cũng từng là biên giới tự nhiên giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài của một thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. 

Con đèo nối liền hai phía Bắc - Nam của dãy Hoành Sơn từng ghi dấu bằng bài thơ “Qua Đèo Ngang” nổi tiếng, cũng là nơi yên nghỉ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một vị tướng quân kiệt xuất, một trong 10 vị tướng giỏi nhất trong lịch sử thế giới. Hầm đường bộ xuyên qua lòng Hoành Sơn ngày nay đã trả lại cho cung đường Đèo Ngang vẻ đẹp vốn có của nó và một không gian thưa vắng, không ồn ào tiếng động cơ, không có những tiếng rít bánh xe sau mỗi khúc cua hóc hiểm.

 Đèo Ngang ngày nay mềm mại, uốn lượn giữa một bên mây vờn đỉnh núi như chốn hư ảo bồng lai và ở phía bên kia là biển xanh, mây trắng, sóng trào.  

Trên đỉnh Hoành Sơn từ cung đường Đèo Ngang, rẽ xuôi về phía biển theo một con đường nhỏ chỉ chừng 500m thấp thoáng giữa rừng thông là di tích Hoành Sơn quan, quan ải kiểm soát việc đi lại giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài. Cửa Hoành Sơn cao hơn 4m, hiện còn nguyên vẹn, cùng hai nền móng của tường lũy bằng đá chạy theo hai hướng vào núi và xuống biển. Trước đây phía cửa mỗi bên có 1.000 bậc đá để lên xuống.

 Nay cửa bên nam không còn bậc đá, bên bắc chỉ còn khoảng vài trăm bậc, nhưng đã được tu sửa lại nhiều. Đứng trên đỉnh Hoành Sơn nhìn về biển phía Nam đèo sẽ thấy biển Hòn La, Vũng Chùa, Đảo Yến... xuống dưới chân đèo là đền thờ Liễu Hạnh, nằm trong cụm di tích, danh thắng gồm Đèo Ngang, Hoành Sơn quan, lũy Hoàn Vương, đình Vĩnh Sơn. Còn từ cửa Hoành Sơn quan trên đỉnh đèo nhìn xuống phía bắc là hồ nước U Bò nay đã bị hầm đường bộ xuyên qua đèo chạy cắt ngang chia hồ nước làm hai. Phía xa hơn là hồ nước Quảng Đông lấp lánh như tấm gương lớn phản chiếu bóng mây trời. 

Thỏa thuê dạo bước Hoành Sơn, trải nghiệm một cung đường đèo đẹp như tranh thủy mạc, mãn nhãn với thiên nhiên thủy tú. Dù chia tay cung đèo để vào Nam hay ra Bắc thì ở cả hai phía chân đèo đều có những bãi biển nhỏ nhắn, xinh đẹp và xanh mát cùng rất nhiều đặc sản hấp dẫn làm thỏa lòng vãng khách. Ở chân đèo phía nam, các bãi tắm Hòn La, Quảng Đông, Cảnh Dương với rừng dương xanh mướt, cát vàng óng ánh cùng các đảo ở ngoài khơi Vũng Chùa như Hòn La, Hòn Vụng Chùa, Hòn Cỏ, Hòn Gió, Đảo Yến tạo thành những thắng cảnh tuyệt đẹp.



Bình minh trên bãi biển Hoành Sơn, biển vắng trong ánh ban mai

Muốn ra thăm đảo cũng chỉ mất chừng 20-30 phút đi thuyền. Chân đèo Ngang về phía Bắc lại có bãi tắm Đèo Con sạch đẹp, bãi cát dài thoai thoải, mát mẻ và kín gió, những ngọn núi với hình thế đặc biệt như núi Cao Vọng, núi Ô Tôn, núi Bàn Độ, Vũng Áng tạo nên quần thể danh thắng bắc đèo Ngang mang một vẻ đẹp riêng không kém phần hấp dẫn. Những bãi tắm nhỏ, hoang sơ cùng rất nhiều món đặc sản biển tươi nguyên sẽ là nơi dừng chân lý tưởng cho những du khách sau khi thỏa mãn độ đèo.

Vũ Thanh
Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Hoành Sơn - Kỳ Anh



(Người Kỳ Anh) Bãi Hoành Sơn thuộc địa phận xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh – cách chân đèo Ngang chưa tới 2km, điểm cuối cùng của Hà Tĩnh, nơi tiếp giáp Quảng Bình. Nơi đây đã từng là ranh giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành trong lịch sSơn

Đèo Ngang là con đèo vượt dãy Hoành Sơn, là một chốt hiểm yếu trên con đường thiên lý Bắc – Nam. Đèo Ngang nổi tiếng không chỉ vì yếu tố lịch sử mà còn là một thắng cảnh nổi tiếng của dải đất miền trung đầy nắng gió. Trên đỉnh đèo có Hoành Sơn Quan, được xây từ thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, vẫn đứng sừng sững qua bao mưa nắng thời gian cho tới bây giờ… Đèo Ngang đã trở thành một huyền thoại đi vào văn chương, thi ca.

Tìm một chặng nghỉ chân trước khi vượt qua con đèo và dãy Hoành Sơn, tôi đã dừng lại ở bãi biển Hoành Sơn. Nằm ngay dưới chân đèo Ngang, đúng hơn là nằm ngay ngã ba từ tuyến quốc lộ 1A đi sát biển phân nhánh – một nhánh lên đèo theo con đường xưa cả ngàn năm, một nhánh đi xuyên hầm Đèo Ngang qua núi, bãi biển Hoành Sơn hoang sơ và lẩn khuất…

Bãi Hoành Sơn thuộc địa phận xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh – cách chân đèo Ngang chưa tới 2km (theo hướng quốc lộ Bắc – Nam), phía bên kia là địa phận Quảng Bình. Có lẽ ở nơi “tận cùng” này, mọi thứ vẫn còn hoang sơ như con đèo và dãy Hoành Sơn hùng vĩ.

Bãi biển Hoành Sơn được dãy núi bao bọc che chở nên kín đáo và lặng gió; nước trong, xanh ngắt. Nơi đây thừa hưởng khí hậu cũng như phong cảnh của cả biển và núi rừng. Ở bãi biển có thể nhìn thấy dãy Hoành Sơn  – dãy núi chạy từ dải Trường Sơn – kéo ra tận biển Đông. Ở đó cũng có những bãi đá lô xô lan từ núi ra biển như như bãi “đá nhảy” như nhiều bãi biển miền Trung…

Bãi biển Hoành Sơn nhỏ, hẹp, không thể là những bãi tắm hoành tráng mang tính công nghiệp du lịch ở miền trung như Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An)… nhưng lại gây ấn tượng bởi sự hùng vĩ và hoang sơ của thiên nhiên, sự giản dị của cuộc sống con người. Bãi biển Hoành Sơn chắc chắn sẽ hấp dẫn những người ưa phiêu lưu, khám phá. Thử xem, một buổi chiều trên bãi biển, trời man mác, không có ai và bất chợt một… đàn bò hiện ra. Dải Hoành Sơn đâm ra biển xanh mờ, những con sóng chồm lên bãi đá… Và thử xem, buổi chiều lên con đèo và xuống khi trời muộn; vẳng nghe thơ Bà Huyện Thanh Quan: “Một mảnh tình riêng ta với ta…”./.

Vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Hoành Sơn

Bình minh trên bãi biển Hoành Sơn, biến vắng trong ánh ban mai


Chỉ có những con sóng tràn lên bờ cát, lên những bãi đá. Phía xa là dải Hoành Sơn xanh mờ nhô ra biển


Vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Hoành Sơn


Những viên đá vùi trong cát và rêu phủ xanh


Thấp thoáng bóng dáng những ngư dân


Kỳ vĩ sóng vỗ những mõm đá nhọn hoắt


Khi con sóng rút đi…


Buổi chiều, biển như bình yên và buồn hơn


Con thuyền cô đơn cũng đang ngơi nghỉ


Bãi đá và những mảng rêu cũng lặng lẽ


Một bức tranh của biển để lại


Đàn bò thủng thẳng đi về…


Nơi đây còn rất hoang sơ và bình yên!

Người Kỳ Anh



Read More
Unknown

Đồng chí Mai Bảo - người giáo dân tình nguyện chèo thuyền đưa bộ đội ra Đảo Sơn Dương.



Gần 40 năm qua, không 1 đồng lương, không tiền phụ cấp, ấy vậy mà ông Mai Bảo - ở thôn Đông Yên –xã Kỳ Lợi vẫn lặng lẽ miệt mài đều đặn chèo thuyền chở gạo, chở bộ đội ra vào đảo Sơn Dương bất chấp những ngày sóng to gió lớn những chuyến đi đầy mạo hiểm, sự miệt mài hy sinh thầm lặng của ông đã khiến bộ đội đảo Sơn Dương kính phục luôn gọi ông là “bố Bảo”.


Người giáo dân tình nguyện chèo thuyền đưa bộ đội ra Đảo Sơn Dương.


 Sẽ không có một lời hoa mỹ lý giải về kỳ tích chèo đò của mình. Ông chỉ nói đó là thấm nhuần đạo lý “Thương người như thể thương thân”. Dường như ông coi đó là bổn phận, là trách nhiệm thiêng liêng của mình. Chính vì vậy, khi được hỏi; Nếu lúc này lại có người ngoài Đảo gặp nguy cấp gọi đò. Ông khẳng định; Chắc chắn chèo. Câu hỏi đó là phản xạ quen thuộc của 1 con người đã gần 40 năm miệt mài thầm lặng không quản gian nguy chèo đò vượt biển giúp người. Tâm sự với chúng tôi, Ông Mai Bảo –thôn Đông Yên –xã Kỳ Lợi cho biết; “Tôi nghĩ rằng các chiến sỹ đóng quân trên đảo Sơn Dương cũng như những người con của mình. Thấy các chiến sỹ khó khăn, tôi không thể nào đứng nhìn. Xuất phát từ tình thương yêu, dù khó khăn, gian khổ bản thân tôi vẫn tự nguyện chở bộ đội ra vào đảo trong những năm tháng còn khó khăn….”
 Không chỉ chở bộ đội ra đảo và tiếp tế lương thực cho cán bộ  chiến sỹ trên đảo Sơn Dương. Ngôi nhà của vợ chồng ông còn là nơi tiếp  đón, ăn nghỉ  khi các anh về phép hay có công việc ở đất liền. Vợ ông, bà Hoàng Thị Át- một người phụ nữ nhân hậu, tất bật lo việc bếp núc, giặt giũ mỗi khi có người lính từ đảo về. Điều gì khiến ông Bảo lao vào chổ nguy hiểm mà không hề so đo tính toán. Có lẽ động lực ấy, chỉ xuất phát từ 1 trái tim nhân hậu biết yêu thương con người đối với những gian nan vất vả thiếu thốn mà những người lính đảo luôn phải gánh chịu. Từ năm 1982 đến nay, ông Bảo không còn chèo thuyền bằng tay nữa, con thuyền đã được nâng cấp để phục vụ công việc tiếp tế thuận lợi hơn. Đây cùng là chiếc thuyền thứ 6 kể từ khi ông bắt đầu chở hàng và bộ đội ra đảo Sơn Dương.


Ông Mai Bảo (ngoài cùng bên trái) cùng các chiến sĩ trên đảo Sơn Dương

  Điều đáng nói, ông Bảo cũng từng là 1 người lính, ngần ấy năm, gia nhập quân đội đủ để ông hiểu và cảm nhận nổi gian truân, vất vả của người lính. Bởi vậy, sau khi xuất ngũ trở về làng quê ven biển cùng với công việc mưu sinh của 1 ngư dân miền biển. Ông Bảo lại lao vào trận chiến mới không kém phần gay go ác liệt. Tình nguyện chèo thuyền chở bộ đội và tiếp tế lương thực cho cán bộ chiến sỹ đảo Sơn Dương. Trong ký ức của mình, ông Bảo vẫn không bao giờ quên được những hình ảnh, những cánh tay gầy guộc giơ lên vẫy chào và cả những nụ cười đầy nước mắt lã đi vì đói sau nhiều ngày thuyền không tiếp cận được đảo do biển động. Vào thời điểm đó, mọi thông tin liên lạc giữa đảo và đất liền chỉ thông qua ngư dân đánh cá nhưng vì biển động chẳng ai dám ra khơi và cả không ít  lần thuyền ông cập đảo vẫn phải quay trở lại bởi ông biết chắc chắn nếu bị sóng đánh chìm thì tính mạng các chiến sỹ khó bảo toàn. Với những đóng góp to lớn của ông đối với những người lính đảo, ông đã vinh dự được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen của TW và của tỉnh Hà Tĩnh. Trao đổi với chúng tôi, thượng tá Lê Văn Hân-  Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện Kỳ Anh nói; “ Chúng tôi không thể kể hết những đóng góp hy sinh thầm lặng của ông đối với cán bộ chiến sỹ trên đảo Sơn Dương. Giờ đây mỗi khi nhắc đến tên ông, anh em chiến sỹ ở ban chỉ huy quân sự huyện luôn xem ông như là 1 người bố, người cha đã từng nuôi sống cán bộ, chiến sỹ công tác trên đảo. Mặc dù, trong những năm gần đây, ông không còn khỏe nữa nhưng cán bộ chiến sỹ ban chỉ huy quân sự huyện vẫn thường xuyên quan tâm, chăm lo cho ông, động viên ông vượt qua khó khăn bệnh tật để vươn lên trong cuộc sống”.




 Trời đã về chiều, ngôi trên bãi biển nhìn ra đảo Sơn Dương hình như trong chuyến đi vừa rồi làm ông nhớ lại những kỷ niệm trong suốt 40 năm lênh đênh chèo thuyền cho không biết bao nhiêu cán bộ chiến sỹ đã từng công tác  đóng quân trên đảo Sơn Dương./.


Mạnh Hải- Phạm Tuấn- Mai Dung
Người Kỳ Anh


Read More
Unknown

Đôi dép cụt mòn của mẹ - Nguyễn Thành Công


ĐÔI DÉP CỤT MÒN CỦA MẸ

Tôi xin được, kể về câu chuyện
 Mang trong lòng xao xuyến từ lâu
 Nay tôi trích dẫn ít câu
 Mong sao người đọc hiểu sâu thế nào.
 Một vùng nọ, đồng bào xa thẳm
 Gia đình nghèo có đấng con trai
 Tuổi tầm hâm ba hâm tư
 Được vô đại học trổ tài thông tin.
 Cha với mẹ, quặn mình bươn chải


Để cho con, trang trải học hành
Ở nơi phố xá thị thành
 Con trai ngoan ngoãn đã nhanh vào đời.
 Mấy năm trước, đang thời thưa thớt
 Ít xin tiền, chắt lót tiêu pha
 Sau rồi bước tới năm ba
 Bao nhiêu tiền của mẹ cha sạch sành.
Ở ngoài phố, tung hoành bầu bạn
 Tìm bao điều tệ nạn thú vui
 Rồi quen gái gú dập vùi
 Shop ping mua sắm húi hùi vọt theo.
 Bao tiền bạc, hộ nghèo vay vốn
 Cha mẹ già, chẳng thốn cái chi
 Cho con được đủ những gì
 Con cần là gửi chẳng khi phàn nàn.
 Bao thấm thoắt, cơ hàn đã thoát
 Con ra trường, hết ngạt u mê
 Sau này xin được ngành nghề
Rồi từ ngày đó không hề thăm quê.
 Nhắn với bạn, gần về thăm lại
 Với một người con gái thành đô
 Nói rằng sắm sửa ít đồ
 Để con xin cưới ô tô rước nàng.
 Vừa về đến, ngỡ ngàng anh thấy
 Cha mẹ gầy, bùn vẫy cả thân
 Mẹ thì dép nát một phần
 Cha thì rách rưới tàn bần lạ thay.
 Anh lẩm bẩm, mặt mày cau cáu
 Nói như rằng, không giấu bạn con
 Với còn ĐÔI DÉP CỤT MÒN


 Không giữ sỷ diện mà còn đem ra.
 Rơi nước mắt, cha già nói khẽ
Bao của tiền, sạch sẽ nuôi con
 Giờ còn thân xác gầy mòn
 Con ơi đừng có trách hờn mẹ cha..!
Đau lòng quá cúi lạy rên là 
 Cha mẹ à con trai sai nhiều lắm.
 Kể từ đấy chàng trai thay đổi
 Biết dập vùi biết mải miết mưu sinh
Để mong thay đổi bóng hình
 Hom gầy , tàn tạ mẹ cha nuôi mình

Nguyễn Thành Công
Người Kỳ Anh

Read More